Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
91004

Việt Nam luôn ưu tiên phổ cập giáo dục và xoá mù chữ

“Việt Nam đã đạt được tiến bộ đáng kể trong mọi lĩnh vực từ phổ cập giáo dục đến xóa mù chữ và học tập suốt đời”, ông Michael Croft, Quyền Trưởng Đại diện Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) tại Việt Nam khẳng định.

Những kết quả ấn tượng

Hôm nay (8/9) là Ngày Quốc tế xoá nạn mù chữ. Theo nhận xét của ông Michael Croft, Quyền Trưởng Đại diện Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), trong thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được tiến bộ đáng kể trong mọi lĩnh vực từ phổ cập giáo dục đến xóa mù chữ và học tập suốt đời, mặc dù vẫn còn một số tồn tại.

Giờ học của cô trò trường THCS Tiền An, Bắc Ninh.

Thứ nhất, về phổ cập giáo dục, Việt Nam đã đạt phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000, sau đó là phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010. Gần đây nhất là đạt được mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi.

Thứ hai, cùng với việc phổ cập giáo dục cơ bản và bắt buộc, Việt Nam đã đạt được những kết quả ấn tượng về xóa nạn mù chữ.

Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho thấy tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết cao ở mức 95,8%.

Khoảng cách về tỷ lệ biết chữ giữa nam và nữ đã thu hẹp trong 20 năm qua, đạt 2,4 điểm % vào năm 2019 (giảm từ 7,0 điểm % vào năm 1999).

Tuy nhiên, sự chênh lệch vẫn còn. Khoảng cách giữa tỷ lệ biết chữ ở thành thị và nông thôn là 4 %: ở thành thị là 98,3% so với 94,3% ở nông thôn.

Sự khác biệt giữa các vùng kinh tế-xã hội còn lớn hơn, trong đó Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ biết chữ cao nhất (98,9%), thấp nhất là ở Tây Nguyên và miền núi phía Bắc (89,9%).

Thứ ba, về học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập, UNESCO nhận thấy những cam kết và nỗ lực của Việt Nam trong hơn hai thập kỷ qua là đáng khích lệ.

Đến năm 2022, tỉnh Yên Bái được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3. Trong ảnh: Lớp xóa mù chữ tại xã Dế Xu Phình, huyện Mù Cang Chải.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX năm 2001 đã ra Nghị quyết xây dựng cả nước trở thành xã hội học tập.

Tiếp theo đó là 3 Đề án Quốc gia về “Xây dựng Xã hội Học tập” (2005-2010; 2012-2020, 2021-2030) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đây là một vài ví dụ về cam kết chính trị trong việc biến đất nước các bạn thành một xã hội học tập.

Việt Nam cũng đã điều chỉnh khái niệm học tập suốt đời lấy cảm hứng từ khuôn khổ, kinh nghiệm quốc tế và đang tích cực thúc đẩy, bao gồm cả thông qua Mạng lưới Thành phố Học tập Toàn cầu (GNLC) của UNESCO, nhằm hỗ trợ và cải thiện thực tiễn học tập suốt đời ở các thành phố trên toàn thế giới.

Hiện tại, 5 thành phố của Việt Nam đã được liệt kê là thành viên của “Thành phố Học tập” trong mạng lưới toàn cầu này gồm: Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp), Hải Dương (tỉnh Hải Dương), Thành phố Hồ Chí Minh, Sa Đéc (tỉnh Đồng Tháp) và Vinh (tỉnh Nghệ An) và sẽ có thêm nhiều thành phố khác.

Trong khi đó, báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho hay,  trong năm học 2022 – 2023, cả nước đã huy động được hơn 32.000 người học các lớp xóa mù chữ, tăng hơn 12.000 người so với năm học trước, góp phần duy trì bền vững thành quả công tác xóa mù chữ tại Việt Nam.

Hiện tỷ lệ người trong độ tuổi 15 – 60 biết chữ mức độ 1 và mức độ 2 lần lượt là gần 99% và hơn 97%. Cả 63/63 tỉnh, thành phố đều đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 1; 48/63 tỉnh đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2 (76,19%), trong đó có 4 tỉnh nâng chuẩn xóa mù chữ từ mức độ 1 lên mức độ 2 so với năm học trước là: Phú Yên, Kiên Giang, Sóc Trăng và Quảng Nam.

Cả nước còn 15 tỉnh chưa đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2, gồm: Quảng Ngãi, Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk Nông, Lai Châu, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái, Bình Phước, Tây Ninh, Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang và Cà Mau.

Sư Danh Sóc Kha tại chùa Tà Bết, xã Thạnh Lộc (Châu Thành, Kiên Giang) dạy tiếng Khmer cho các em nhỏ.

Nhiều chính sách thúc đẩy học tập

Hiến pháp năm 2013 nhấn mạnh: “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” (Điều 39); “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút nguồn đầu tư khác cho giáo dục; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục chuyên nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý. Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục vùng miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn” (Điều 61).

Kiên trì đường lối phát triển giáo dục như là một bộ phận quan trọng của công cuộc đổi mới, tháng 10/2013, Trung ương đã ra Nghị quyết 29 đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục với tinh thần chủ đạo là chuyển từ phát triển số lượng sang phát triển chất lượng, với khẩu hiệu thực học, thực nghiệp để giáo dục con người Việt Nam, thế hệ trẻ Việt Nam và nguồn nhân lực chất lượng cao theo Nghị quyết Đại hội XI đề ra.

Nhằm bảo đảm điều kiện tốt nhất cho giáo dục, đào tạo, những năm qua, dù nguồn ngân sách còn hạn chế, Nhà nước vẫn ưu tiên duy trì mức chi khoảng 20% tổng ngân sách cho giáo dục, đào tạo. Nhờ đó, nước ta đã xây dựng được một hệ thống giáo dục quy mô và đầy đủ các cấp học ở mọi vùng, miền với các loại hình trường lớp đảm bảo nhu cầu học tập cho học sinh các cấp đúng độ tuổi. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (công bố ngày 15/3/2018) Việt Nam là một trong số 10 nước có hệ thống giáo dục hàng đầu thế giới ở khu vực Đông Á-Thái Bình Dương tiên phong trong đổi mới giáo dục.

Sau nhiều nỗ lực, Việt Nam đã hoàn thành phổ cập tiểu học vượt trước 15 năm so với thời hạn của Mục tiêu Thiên niên kỷ (năm 2000) và được UNESCO đánh giá xếp thứ 64/127 nước về phát triển giáo dục.

Tuy nhiên, công tác giáo dục ở Việt Nam vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Bộ Giáo dục và Đào tạo đang phát động Phong trào “Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời giai đoạn 2023 – 2030”. Chương trình này góp phần phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của việc học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập, góp phần đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế.

Để thực hiện chương trình xóa mù chữ bảo đảm chất lượng, hiệu quả, các Sở Giáo dục và Đào tạo cũng đã chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị được giao nhiệm vụ dạy xóa mù chữ căn cứ vào chương trình xóa mù chữ mới cùng các công văn hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo để xây dựng kế hoạch dạy học, sử dụng Bộ tài liệu Hướng dẫn dạy – học hiện hành; sử dụng nguồn lực sẵn có của địa phương (cơ sở vật chất, thiết bị của các trường học trên địa bàn, nhà văn hóa thôn xóm, trung tâm học tập cộng đồng…) để thực hiện chương trình xóa mù chữ.

H.Chi

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *