Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
26000

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị Kỳ 2: Sự chủ động và nỗ lực của Việt Nam

Nỗ lực của Việt Nam trong bảo đảm các quyền dân sự, chính trị thông qua việc thực thi Công ước ICCPR đã được thể hiện một cách chủ động, đầy đủ thông qua công tác: (i) xây dựng, hoàn thiện pháp luật về các quyền dân sự, chính trị; (ii) đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về các quyền dân sự, chính trị; (iii) tăng cường thực thi pháp luật và (iv) thực hiện nghĩa vụ xây dựng báo cáo quốc gia thực thi Công ước ICCPR.

Cà Mau tập huấn kiến thức pháp luật về các quyền dân sự chính trị cho đồng bào dân tộc thiểu số

Điểm sáng trong công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật

Hiến pháp năm 2013 ghi nhận nguyên tắc: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”;[1] đồng thời cũng quy định rõ, mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.[2]

Hiến pháp năm 2013 cũng lần đầu tiên quy định nguyên tắc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nội dung về hạn chế quyền. Theo đó: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Nguyên tắc này phù hợp với các chuẩn mực của pháp luật quốc tế về hạn chế quyền con người. Nguyên tắc này cũng được thể hiện tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, sau đây gọi là Luật BHVBQPPL), theo đó, chỉ có Quốc hội có thẩm quyền ban hành luật để quy định: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định; việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt (điểm b khoản 1 Điều 15).

Trong giai đoạn từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2022, Việt Nam đã thông qua 56 luật, nghị quyết của Quốc hội có liên quan đến quyền con người, quyền công dân, góp phần cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 cũng như các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên như: Bộ luật lao động năm 2019, Luật Thanh niên năm 2020, Luật Giáo dục năm 2019, Luật Cư trú năm 2020, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2021, Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, Luật Thanh tra năm 2022, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022,… Trong Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Quốc hội còn dự kiến ban hành nhiều luật khác liên quan tới quyền con người như: Luật Việc làm (sửa đổi), Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), Luật Công đoàn (sửa đổi), Luật Dân số (sửa đổi),…

Bên cạnh đó, để thực hiện nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ các quyền con người, Việt Nam không ngừng hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, theo đó, xác định rõ ràng hơn thẩm quyền của các cơ quan nhà nước có liên quan đến bảo vệ, bảo đảm quyền con người Chẳng hạn như, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ Quốc hội có thẩm quyền quyết định việc phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của Công dân (khoản 14 Điều 70); Chính phủ có trách nhiệm bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội (khoản 6 Điều 96); Toà án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân (khoản 3 Điều 102); và Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân (khoản 3 Điều 107). Chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, các cơ quan có nhiệm vụ liên quan đến quyền con người khác (ví dụ như Cơ quan điều tra hình sự, công an nhân dân, các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính…) đều được cụ thể hoá trong các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó xác định rõ giới hạn về thẩm quyền để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ tôn trọng đối với các quyền con người.[3] Đồng thời, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động phản biện xã hội cũng được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Mặt Trận tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn[4].…

Trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật được hoàn thiện, trong đó bổ sung các nguyên tắc, trình tự, thủ tục để đảm bảo quyền của đối tượng tác động – cũng là đảm bảo quyền con người, quyền công dân. Luật BHVBQPPL  quy định rõ thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành từng loại văn bản quy phạm pháp luật, trong đó quy định trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc lấy ý kiến của đối tượng chịu tác động trực tiếp, đánh giá tác động về giới…. Các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình đề xuất, xây dựng đều được đánh giá để đảm bảo sự phù hợp với các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.[5] Các văn bản quy phạm pháp luật cũng có thể được kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ thi hành; xây dựng và thông qua theo trình tự, thủ tục rút gọn để đảm bảo thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.[6]

Bên cạnh đó, các hành vi xâm phạm quyền con người cũng được phòng ngừa thông qua hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về xử lý các hành vi này. Việt Nam đã ban hành, sửa đổi bổ sung Bộ luật Hình sự, Luật xử lý vi phạm hành chính và nhiều nghị định về xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực, trong đó quy định rõ các hành vi bị coi là tội phạm, vi phạm hành chính và các mức chế tài cụ thể với từng hành vi.

Ngoài việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật để trực tiếp ghi nhận, bảo vệ quyền con người, Việt Nam cũng tích cực hoàn thiện khuôn khổ pháp luật có liên quan để tạo điều kiện cho các cá nhân được thụ hưởng quyền của mình ở mức độ cao nhất có thể. Hiện nay, Việt Nam có nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để hỗ trợ các cá nhân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương được tiếp cận thông tin, hiểu rõ hơn và có cơ hội thực hiện quyền của mình, chẳng hạn như Luật Trợ giúp pháp lý, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật….

Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật để thúc đẩy quyền con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thế giới, trong đó có Việt Nam vừa trải qua đại dịch COVID-19 gây ảnh hưởng, cản trở nghiêm trọng việc thụ hưởng quyền của các cá nhân. Trong giai đoạn dịch bệnh, Quốc hội đã kịp thời ban hành các Nghị quyết tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp phòng chống dịch bệnh và hỗ trợ cho người dân chịu ảnh hưởng bởi dịch. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật cũng được ban hành trong giai đoạn này để đảm bảo tốt hơn nữa quyền của người dân trong bối cảnh dịch bệnh, ví dụ như: Quyết định 02/2016/QĐ-TTg ngày 28/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ quy định điều kiện công bố dịch, công bố hết dịch bệnh truyền nhiễm; Quyết định 447/QĐ-TTg ngày 01/04/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc công bố dịch COVID-19….

 Tiếp tục thúc đẩy các quyền dân sự và chính trị thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và đào tạo

Công tác phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) về quyền dân sự, chính trị cho cán bộ và nhân dân luôn được xác định là nhiệm vụ cần được thực hiện thường xuyên, liên tục. Các hoạt động PBGDPL đã được tiến hành dưới nhiều hình thức, nội dung phong phú, ứng dụng công nghệ thông tin nên đã đạt được nhiều kết quả quan trọng (chi tiết xem tại Báo cáo quốc gia thực thi Công ước ICCPR lần thứ 4).

Riêng trong lĩnh vực của Bộ Tư pháp, nhằm cung cấp đa dạng các tài liệu PBGDPL về quyền dân sự, chính trị, Bộ Tư pháp đã tổ chức biên soạn và phát hành nhiều tài liệu phổ biến pháp luật về quyền dân sự, chính trị, gồm:

– Năm 2019, Bộ Tư pháp đã biên soạn 13 tiểu phẩm; 87 câu hỏi đáp pháp luật về các quyền dân sự, chính trị;

– Năm 2020, Bộ Tư pháp đã biên soạn 12 tờ gấp dịch ra 05 tiếng dân tộc thiểu số (Thái, Jarai, Bana, Chăm, Mông) và 296 câu hỏi đáp pháp luật về các quyền dân sự, chính trị.

– Năm 2021: Để hưởng ứng đợt cao điểm phổ biến, giáo dục pháp luật phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 và kịp thời tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về bầu cử nhằm giúp người dân nắm bắt các thông tin pháp luật, qua đó hiểu rõ hơn về quyền làm chủ, quyền chính trị của mình và hiểu về tổ chức bộ máy nhà nước, Bộ Tư pháp đã tiến hành biên soạn Tài liệu PBGDPL về các quyền dân sự, chính trị đăng tải trên Trang thông tin PBGDPL gồm 08 chuyên đề và 100 câu hỏi – đáp phổ biến các quy định pháp luật về về bầu cử và tổ chức bộ máy.

Ngoài ra, Bộ Tư pháp còn phối hợp với Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc xây dựng, in ấn 12.000 bản tờ gấp, truyện tranh phổ biến quy định pháp luật về tảo hôn và hôn nhân cận huyết bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc Thái, tiếng dân tộc Mông. Các tài liệu này được cấp phát đến người dân và học sinh các trường trung học cơ sở của 05 tỉnh: Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái và Cao Bằng.

Các tài liệu trên đều được đăng tải trên Trang thông tin phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (http://pbgdpl.moj.gov.vn) để các bộ, ngành, địa phương khai thác, sử dụng làm tài liệu phổ biến và phục vụ nhu cầu tra cứu, tìm hiểu của cán bộ, công chức, nhân dân trên cả nước.

Tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về quyền dân sự và chính trị

Các hoạt động nhằm tiếp tục tục nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về quyền dân sự và chính trị có thể kể đến như:

(i) Ban hành và thực hiện các kế hoạch, chương trình hành động quốc gia để xóa bỏ định kiến, phân biệt đối xử đối với phụ nữ (nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong mọi lĩnh vực và xóa bỏ bạo lực giới) và các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.

(ii) Nâng cao hiệu quả tiếp nhận khiếu nại, tố cáo theo hướng thuận tiện, an toàn và tăng tỷ lệ giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến các vi phạm quyền dân sự và chính trị của các cá nhân để đảm bảo tốt hơn quyền khiếu nại, tố cáo.

(iii) Tiếp tục nâng cao hiệu quả thi hành các quyền dân sự và chính trị trong hoạt động tố tụng hình sự;

(iv) Tăng cường hoạt động hỗ trợ bảo vệ các quyền dân sự và chính trị;…

Ngoài ra, với phương châm hệ thống pháp luật chỉ thực sự phát huy được hiệu lực, hiệu quả khi được tổ chức thi hành kịp thời, đầy đủ, nhất quán và nghiêm minh, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 26/2/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật”. Ngày 08/6/2023, Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Đề án này đã được tổ chức, qua tổng kết cho thấy, các Bộ, ngành, địa phương đã thực hiện 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể trong công tác tổ chức thi hành pháp luật, gồm: tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo điều hành của chính quyền; hoàn thiện thể chế tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật; đổi mới công tác theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật; tăng cường năng lực phản ứng chính sách; ứng dụng công nghệ thông tin; tăng cường theo dõi, kiểm tra việc thực hiện quả lý nhà nước trong công tác tổ chức thi hành pháp luật.

(Thông tin, số liệu về thực hiện các quyền dân sự, chính trị từ năm 2019-2022 xin xem Báo cáo quốc gia thực thi Công ước ICCPR lần thứ 4).

 Hoàn thành việc xây dựng Báo cáo quốc gia thực thi Công ước ICCPR lần thứ 4

Thực hiện Quyết định số 1252/QĐ-TTg[7] và Quyết định số 3028/QĐ-BTP[8], Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối, chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng dự thảo Báo cáo thực thi Công ước ICCPR lần thứ 4.

Báo cáo ICCPR lần thứ 4 do Ban soạn thảo liên ngành gồm 23 thành viên là đại diện các Bộ, ngành, đơn vị liên quan trực tiếp đến nội dung Công ước ICCPR xây dựng. Báo cáo được xây dựng và hoàn thiện trên cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan ở cả trung ương và địa phương, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp và người dân. Dự thảo Báo cáo đã được đăng công khai để lấy ý kiến toàn dân trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Nhiều cuộc họp, hội thảo, toạ đàm đã được tổ chức nhằm tạo cơ hội đối thoại cởi mở, thẳng thắn giữa Ban soạn thảo và các bên liên quan. Các ý kiến đóng góp đối với dự thảo Báo cáo đều được Ban soạn thảo tổng hợp, nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý.

Ngày 22/3/2023, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt nội dung, cho phép nộp Báo cáo thực thi Công ước ICCPR lần thứ 4 tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp đã thực hiện các thủ tục để nộp Báo cáo đến Ủy ban Nhân quyền LHQ đúng hạn. Bản tiếng Anh đã được đăng tải đăng tải trên website của Ủy ban Nhân quyền LHQ.

Báo cáo thực thi Công ước ICCPR lần thứ 4 được chia thành 2 phần (Phần I Thông tin chung và Phần II về Báo cáo về các quy định cụ thể) với tổng số 135 đoạn, trong đó tình hình thực hiện đối với từng điều và khuyến nghị được phân chia cụ thể, rõ ràng tại Phần II của Báo cáo. Báo cáo này cũng được trình bày theo đúng yêu cầu của Ủy ban Nhân quyền LHQ với dung lượng không vượt quá 21.200 từ. Cùng với Báo cáo thực thi Công ước ICCPR lần thứ 4, Việt Nam đã nộp 05 Phụ lục kèm theo (bao gồm Phụ lục 1(Các Kế hoạch thực hiện Công ước ICCPR); Phụ lục 2 (Danh mục Luật, Nghị quyết của Quốc hội có liên quan (năm 2019-2022)); Phụ lục 3 (Danh mục các hội nghị, hội thảo, tọa đàm, tập huấn tuyên truyền, phổ biến pháp luật về các quyền dân sự, chính trị (năm 2019-2022)); Phụ lục 4 (Các chương trình mục tiêu quốc gia (năm 2021-2025)); và Phụ lục 5 (Thông tin về một số văn bản pháp luật trong lĩnh vực thông tin, truyền thông).

Thông qua Báo cáo thực thi Công ước ICCPR lần thứ 4, Việt Nam cung cấp các thông tin chính thức của Nhà nước Cộng hoà xã hội nghĩa Việt Nam, thể hiện những bước phát triển và nỗ lực của Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy các quyền dân sự và chính trị. Báo cáo phản ánh những tiến bộ của Việt Nam cả về hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và thực tiễn thực hiện trong giai đoạn 2019-2022 với mong muốn thế giới hiểu rõ hơn về những nỗ lực, tiến bộ của Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy các quyền dân sự và chính trị, cùng với đó, tiếp tục ghi nhận, ủng hộ những nỗ lực của Việt Nam trong lĩnh vực này.

[1] Khoản 1 Điều 14

[2] Khoản 2, khoản 4 Điều 15

[3] Các văn bản có thể kể đến như Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Tổ chức toà án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Quốc phòng, Luật Công an nhân dân, Luật Xử lý vi phạm hành chính….

[4] Luật Công đoàn hiện đang được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và dự kiến sẽ trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8, khoá XV (dự kiến tháng 10-11/2024)

Xem thêm tại: Linh Nguyên, Sửa đổi Luật Công đoàn phải đáp ứng được ba mục tiêu, Cổng Thông tin điện tử Công đoàn Công Thương Việt Nam

Truy cập tại: https://congdoancongthuong.org.vn/tin-tuc/t6500/sua-doi-luat-cong-doan-phai-dap-ung-duoc-3-muc-tieu.html

[5] Các quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đề cập về đảm bảo sự phù hợp của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật với điều ước quốc tế có thể kể đến như khoản 5 Điều 5, khoản 2 Điều 32, khoản 1 Điều 33, khoản 1 Điều 34, khoản 2 Điều 36, khoản 3 Điều 39, khoản 2 Điều 55…

[6] Khoản 3 Điều 12, khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 146 Luật BHVBQPPL

[7] Mục II.4.đ Quyết định số 1252/QĐ-TTg ngày 26/9/2019 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Kế hoạch tăng cường thực thi hiệu quả Công ước ICCPR và các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền LHQ (sau đây gọi là Quyết định số 1252/QĐ-TTg) và Mục D.V.2 Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số 1252/QĐ-TTg

[8] Mục B.I.4 Quyết định số 3028/QĐ-BTP

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *