Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
10150

Thúc đẩy bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số

Bình đẳng giới là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong bảo đảm quyền con người đặc biệt bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số. Có thể nói việc thực hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc trong nhiều năm qua đã góp phần quan trọng ổn định, cải thiện, nâng cao mọi mặt đời sống của đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi để không ai bị bỏ lại phia sau

Giúp phụ nữ DTTS phát huy thế mạnh của mình và chủ động trong cuộc sống

Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% dân số cả nước, cư trú đan xen ở 51 tỉnh, thành phố. Địa bàn cư trú chủ yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và tây Duyên hải miền trung, chiếm 3/4 diện tích cả nước. Việc thực hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc trong nhiều năm qua đã góp phần quan trọng ổn định, cải thiện, nâng cao mọi mặt đời sống của đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần tích cực xây dựng nông thôn mới và sự phát triển đất nước.

Đến nay 98,4% xã có đường ô-tô đến trung tâm; trên 98% hộ dân tộc thiểu số được sử dụng điện lưới quốc gia; 100% xã có trường lớp mầm non, trường tiểu học, trung học cơ sở; 99,3% xã có trạm y tế; trên 90% xã được phủ sóng phát thanh, truyền hình; 100% xã có hạ tầng viễn thông và được phủ sóng di động đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của người dân. Đời sống vật chất và tinh thần đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo của các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn giảm trung bình 3-4% năm. Tính đến hết tháng 8/2018, có 1.052 xã vùng dân tộc thiểu số, miền núi được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, đạt tỷ lệ 22,29%.

Những thành tựu đáng kể trong sự phát triển về phát triển kinh tế-xã hội đã tạo ra những tác động tích cực cho công tác bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số và cũng tạo ra những chuyển biến nhất định từ kết quả thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới. Đặc biệt, chính sách giáo dục và y tế đã giúp cho phụ nữ dân tộc thiểu số được tiếp cận một cách bình đẳng và dễ dàng hơn.

Với chức năng là quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc trong phạm vi cả nước, thời gian qua, Ủy ban Dân tộc đã chủ động phối hợp các bộ, ban, ngành Trung ương phối hợp thực hiện nhiệm vụ liên quan chăm sóc, nâng cao chất lượng y tế, văn hóa, giáo dục đối với phụ nữ là đối tượng thuộc nhóm dễ bị tổn thương.

Bên cạnh đó, Ủy ban Dân tộc tiếp tục thực hiện tốt các chương trình, đề án, chính sách được giao quản lý hoặc chủ trì triển khai thực hiện có nội dung liên quan giới, bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số và miền núi như: Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2025” (Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 14/4/2015); Đề án “Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2018-2025” (Quyết định số 1898/QĐ-TTg ngày 28/11/2017).

Từ năm 2022, Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021-2025 được triển khai thực hiện. Chương trình gồm 10 dự án, trong đó có dự án 8 “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em” và Tiểu dự án 9.2 “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”.

Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% dân số cả nước, cư trú đan xen ở 51 tỉnh, thành phố. Địa bàn cư trú chủ yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và tây Duyên hải miền trung, chiếm 3/4 diện tích cả nước. Việc thực hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc trong nhiều năm qua đã góp phần quan trọng ổn định, cải thiện, nâng cao mọi mặt đời sống của đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần tích cực xây dựng nông thôn mới và sự phát triển đất nước.

Nổi bật là đến thời điểm hiện nay, 98,4% xã có đường ô-tô đến trung tâm; trên 98% hộ dân tộc thiểu số được sử dụng điện lưới quốc gia; 100% xã có trường lớp mầm non, trường tiểu học, trung học cơ sở; 99,3% xã có trạm y tế; trên 90% xã được phủ sóng phát thanh, truyền hình; 100% xã có hạ tầng viễn thông và được phủ sóng di động đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của người dân. Đời sống vật chất và tinh thần đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo của các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn giảm trung bình 3-4% năm. Tính đến hết tháng 8/2018, có 1.052 xã vùng dân tộc thiểu số, miền núi được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, đạt tỷ lệ 22,29%.

Đánh giá tổng thể số liệu được phân tích qua điều tra kinh tế-xã hội 53 dân tộc thiểu số năm 2019, có thể thấy những thành tựu đáng kể trong sự phát triển về phát triển kinh tế-xã hội đã tạo ra những tác động tích cực cho công tác bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số và cũng tạo ra những chuyển biến nhất định từ kết quả thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới. Đặc biệt, chính sách giáo dục và y tế đã giúp cho phụ nữ dân tộc thiểu số được tiếp cận một cách bình đẳng và dễ dàng hơn.

Với chức năng là quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc trong phạm vi cả nước, thời gian qua, Ủy ban Dân tộc đã chủ động phối hợp các bộ, ban, ngành Trung ương phối hợp thực hiện nhiệm vụ liên quan chăm sóc, nâng cao chất lượng y tế, văn hóa, giáo dục đối với phụ nữ là đối tượng thuộc nhóm dễ bị tổn thương.

Bên cạnh đó, Ủy ban Dân tộc tiếp tục thực hiện tốt các chương trình, đề án, chính sách được giao quản lý hoặc chủ trì triển khai thực hiện có nội dung liên quan giới, bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số và miền núi như: Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2025” (Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 14/4/2015); Đề án “Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2018-2025” (Quyết định số 1898/QĐ-TTg ngày 28/11/2017).

Từ năm 2022, Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021-2025 được triển khai thực hiện. Chương trình gồm 10 dự án, trong đó có dự án 8 “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em” và Tiểu dự án 9.2 “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”.

Trong lĩnh vực chính trị đã tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị của cán bộ nữ toàn quốc. Số lượng cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số là Ủy viên Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội liên tục tăng qua các khóa gần đây. Nhiều cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số được tín nhiệm bầu, bổ nhiệm giữ các chức vụ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước.

Về lao động và việc làm, đặc điểm nổi bật của người DTTS là tham gia làm việc từ độ tuổi rất trẻ. Tỷ lệ người DTTS từ 15 tuổi trở lên có việc làm năm 2015 đạt tới 87,55%, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ tương ứng của người Kinh là 74,92%.  Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở cả nam và nữ DTTS đều ở mức thấp. Khả năng tiếp cận thị trường giúp phụ nữ DTTS đóng góp vào kinh tế gia đình cũng là một trong những yếu tố tác động tích cực đến việc nâng cao vị thế của người phụ nữ DTTS trong gia đình và xã hội.

Chất lượng nguồn nhân lực nữ được nâng cao, từng bước bảo đảm sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng và ban hành nhiều cơ chế, chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo vùng đồng bào DTTS&MN. Các chương trình, dự án, chính sách của nhà nước đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của con em đồng bào DTTS. Mạng lưới trường mầm non, trường phổ thông ở vùng đồng bào DTTS tiếp tục được củng cố, mở rộng, nhất là các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, dự bị đại học dân tộc; chất lượng giáo dục của các trường được nâng lên một bước. Mặc dù vậy, giáo dục và đào tạo tại vùng DTTS vẫn còn một số vấn đề bất cập như: Tỷ lệ người DTTS biết đọc biết viết tiếng phổ thông là 81,5%. Tỷ lệ lao động người DTTS đã qua đào tạo thấp: Trung bình đạt khoảng 10,3%, mới bằng gần 1/3 so với tỷ lệ trung bình của lực lượng lao động cả nước.

Y tế cũng là lĩnh vực được Chính phủ quan tâm đầu tư tại vùng DTTS, đến nay đã đạt được các kết quả quan trọng như: Có gần 6 triệu người DTTS có thẻ bảo hiểm y tế, phần lớn nhờ chính sách cấp bảo hiểm y tế miễn phí cho người DTTS sinh sống tại những địa bàn khó khăn, trong đó tỷ lệ người DTTS có sử dụng thẻ bảo hiểm y tế đi khám chữa bệnh khoảng trên 90%.  Tỷ lệ phụ nữ DTTS khám thai và sinh con tại cơ sở y tế vẫn thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước: năm 2015 tỷ lệ khoảng 70%, đến năm 2019 được cải thiện với gần 90%  phụ nữ DTTS từ 15-49 tuổi có đến khám thai và sinh con tại cơ sở y tế.

Lĩnh vực thông tin, truyền thông vùng đồng bào DTTS&MN đã có bước phát triển nhanh, cơ bản đáp ứng nhu cầu thông tin, liên lạc của nhân dân. Từ năm 2016 đến nay, đã chuyển phát 18 loại ấn phẩm báo, tạp chí với số lượng 51,2 triệu tờ; kênh VTV5 – Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất và phát sóng hầu hết các ngày trong tuần, gồm 22 thứ tiếng DTTS; có hơn 16.000 điểm giao dịch bưu chính viễn thông, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong mọi tình huống. Cùng với sự phát triển chung của cả nước, tỷ lệ hộ gia đình người DTTS sử dụng điện thoại tăng lên đáng kể trong giai đoạn 2010 – 2018, tuy nhiên tỷ lệ hộ có điều kiện sử dụng điện thoại và các phương tiện nghe nhìn như tivi, đài phát thanh không đồng đều. Một số nhóm dân tộc có tỷ lệ hộ có điện thoại ở mức dưới 40%, thấp hơn nhiều so với mức bình quân chung của cả nước.

Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các hoạt động truyền thông dân số – kế hoạch hóa gia đình, các vấn đề về giới, bình đẳng giới, bất bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội được triển khai với nhiều nội dung và hình thức đa dạng, phong phú thu hút sự quan tâm của nam và nữ giới trong việc thực hiện công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình. Nhiều hoạt động truyền thông, vận động được các bộ, ngành và địa phương linh hoạt, chủ động thực hiện bằng nhiều hình thức sáng tạo, tranh thủ lồng ghép vào các chương trình, dự án chính sách khác đang triển khai tại vùng DTTS, từ đó nâng cao hiệu quả, góp phần hoàn thành các mục tiêu về bình đẳng giới.

 

Bài viết cùng chủ đề:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *