Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
35733

Bảo đảm QCN của phạm nhân nữ có những đặc điểm riêng biệt so với bảo đảm quyền của phạm nhân nam

Phạm nhân nữ được hưởng tất cả các QCN của phạm nhân trong suốt quá trình THAPT. Quá trình này được tính kể từ khi họ vào trại giam cho đến khi được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù, được trả lại tự do, trở về với gia đình, cộng đồng và xã hội. Tuy nhiên, với những đặc trưng về giới nên việc bảo đảm QCN của phạm nhân nữ có những đặc điểm riêng biệt so với bảo đảm quyền của phạm nhân nam:

Một là, bảo đảm quyền của phạm nhân nữ phải được thực hiện dựa trên nguyên tắc bình đẳng giới, nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử.

Theo quy định tại Điều 3 của cả hai Công ước quan trọng: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) ghi nhận rằng các quốc gia thành viên cam kết đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ. Đây là hai Công ước quốc tế quan trọng về QCN, Việt Nam gia nhập hai Công ước này vào tháng 9/1982. Trước đó, tháng 11/1981 Việt Nam đã tham gia ký Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và chính thức phê chuẩn Công ước này vào tháng 2/1982. Theo quy định của Công ước CEDAW thì “phân biệt đối xử với phụ nữ” nghĩa là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào được đề ra dựa trên cơ sở giới tính mà có tác dụng hay mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ nữ được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện các QCN và tự do cơ bản; các quốc gia thành viên Công ước phải tiến hành mọi biện pháp thích hợp, kể cả về mặt lập pháp, trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là về chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa, để đảm bảo sự phát triển và tiến bộ đầy đủ của phụ nữ, với mục đích đảm bảo cho họ thực hiện và được hưởng các quyền của con người và tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng với nam giới.

Khái niệm bình đẳng giới được đề cập trong nội dung các Công ước nói trên được hiểu là bình đẳng cả trong pháp luật và bình đẳng trong thực tế. Mặc dù nguyên tắc này đã được thừa nhận trong nhiều điều ước quốc tế về QCN, trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia, song cần được nhấn mạnh thường xuyên vì phụ nữ là nhóm người bị thiệt thòi, đặc biệt trong hoàn cảnh bị tước tự do, họ dễ bị khước từ các quyền đã được thừa nhận rộng rãi cho phạm nhân nói chung.

Tại Việt Nam, bình đẳng giới được coi là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật. Điều 9 Hiến pháp năm 1946 nêu rõ “Đàn bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện”; điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”; điều 26 Hiến pháp năm 2013 quy định: Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt, nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới; Bộ luật Lao động năm 2019 thì dành 11 đặc quyền pháp luật cho lao động nữ. Bên cạnh đó Chính phủ còn ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 và giai đoạn 2021 – 2030. Trong nội dung của Luật THAHS năm 2019, nội dung bình đẳng được thể hiện thông qua quy định về quyền của phạm nhân nói chung, không phân biệt quy định cho phạm nhân nam hoặc phạm nhân nữ.

Trong môi trường trại giam, với hoàn cảnh bị tước tự do thì việc đảm bảo quyền cho phạm nhân nữ dựa trên nguyên tắc bình đẳng giới là vô cùng quan trọng, góp phần quan trọng vào công tác giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội.

Hai là, bảo đảm quyền của phạm nhân nữ gắn với việc thực hiện các biện pháp phù hợp về giới trong suốt quá trình thi hành án phạt tù.

Khi áp dụng các biện pháp pháp lý, hành chính hay tư tưởng đối với phạm nhân nữ, các cơ quan có thẩm quyền, các cán bộ thực thi pháp luật có nghĩa vụ căn cứ vào sự khác biệt giữa nữ giới và nam giới về mặt sinh học, xã hội và văn hóa để đưa ra các biện pháp phù hợp.

Đối với những trại giam tiếp nhận cả phạm nhân nam và phạm nhân nữ thì khu vực giam giữ của phạm nhân nữ phải được bố trí tại một khu vực riêng biệt và cách càng xa càng tốt khu vực giam giữ của phạm nhân nam. Đối khu vực giam giữ phạm nhân nữ thì phải có khu vực đặc biệt để phục vụ cho việc chăm sóc và điều trị cần thiết trước và sau khi sinh. Đối với những trường hợp phạm nhân nữ có con theo mẹ vào trại giam thì phải có nhà trẻ với nhân viên đủ trình độ để chăm sóc cho trẻ khi vắng mẹ; việc quản lý giáo dục cải tạo đối với phạm nhân nữ phải do cán bộ nữ đảm nhiệm trừ trường hợp bác sỹ, giáo viên thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn trong khu vực giam giữ của phạm nhân nữ.

Các biện pháp nhạy cảm về giới đối với phạm nhân nữ cũng đã được ghi nhận trong Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân được Đại hội đồng LHQ thông qua năm 1955 và được phê chuẩn bằng các nghị quyết 663C năm 1957 và Nghị quyết 2076 năm 1977.

Ba là, bảo đảm quyền của phạm nhân nữ là kết hợp bảo đảm quyền của nhóm và bảo đảm quyền của cá nhân.

Trong quản lý giáo dục cải tạo phạm nhân nói chung và phạm nhân nữ nói riêng phải vừa phân nhóm, vừa cá thể hóa. Điều này có nghĩa phải cá nhân hóa sự đối xử với phạm nhân nhưng cũng cần một hệ thống linh hoạt để phân nhóm phạm nhân sao cho phù hợp. Việc cá nhân hóa trong bảo đảm QCN cho phạm nhân nữ nghĩa là áp dụng các biện pháp phù hợp đối với từng phạm nhân nữ; việc phân nhóm là việc phân chia riêng biệt giữa nhóm phạm nhân nam và phạm nhân nữ hoặc phân nhóm trong chính những phạm nhân nữ với nhau.

Đối với phạm nhân nữ, vốn dĩ họ đã thuộc nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội, khi chấp hành án phạt tù họ bị tước tự do, bị hạn chế hoặc tước bỏ một số quyền, nên cần phải được áp dụng các biện pháp bảo vệ đặc biệt nghiêm ngặt trong quá trình THAPT nhằm đạt được mục tiêu: Được đối xử một cách nhân đạo và được tôn trọng với phẩm giá vốn có của con người. Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đã có quy định cụ thể về phân nhóm để bảo vệ các phạm nhân nữ, không giam chung phạm nhân nam và nữ, phải tách biệt từng khu nam, khu nữ rõ ràng. Khi kiểm tra khu nữ thì ít nhất phải có một cán bộ nữ đi cùng; khi áp dụng các biện pháp an ninh đề phòng phạm nhân bỏ trốn hay các hành vi phá hoại khác cũng không cần áp dụng một mức độ an ninh chung cho các phạm nhân nam và phạm nhân nữ. Trong số phạm nhân nữ thì lại được phân nhóm dựa trên độ tuổi, mức án phạt tù, mức độ tái phạm, việc chấp hành các quy định trong trại giam của phạm nhân nữ, tiểu sử bệnh lý, phạm nhân đang mang thai, phạm nhân có con theo mẹ vào trại giam. Đối với mỗi phạm nhân nữ, các đặc điểm về sinh học, giới tính, quan hệ hôn nhân, gia đình đều mang đặc điểm riêng biệt, vì vậy, đội ngũ cán bộ, quản giáo trong trại giam cần tìm hiểu, nghiên cứu kỹ về đặc điểm nhân cách, tâm lý, hoàn cảnh sinh sống của họ để từ đó lựa chọn các biện pháp quản lý, giáo dục thích hợp giúp họ vượt qua khó khăn, cải tạo tích cực, sớm được trở về với gia đình, xã hội.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *