Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
2134

Bộ nguyên tắc Yogyakarta – văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên ghi nhận và bảo vệ quyền đồng tính

Để giải quyết những vấn đề về quyền cho người đồng tính, ngày 26 tháng 3 năm 2007, một nhóm chuyên gia nhân quyền đưa ra bộ Yogyakarta Principles (Nguyên tắc Yogyakarta) để áp dụng luật nhân quyền cho những vấn đề có liên quan đến khuynh hướng/xu hướng tính dục (sexual orientation) và bản dạng giới (gender identity). Các chuyên gia này đến từ các khu vực và nguồn gốc khác nhau, bao gồm các thẩm phán, học giả, cựu Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người, các thủ tục đặc biệt của Liên hợp quốc, thành viên của các cơ quan hiệp ước, các tổ chức phi chính phủ và những người khác.

Người LGBT+ dễ bị tổn thương kép

Tiến tới xóa bỏ hoàn toàn sự kỳ thị người đồng tính trên thế giới

Sau cuộc họp của các chuyên gia được tổ chức tại Đại học Gadjah Mada ở Yogyakarta, Indonesia từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 11 năm 2006, các chuyên gia đã nhất trí thông qua Nguyên tắc Yogyakarta về áp dụng luật quốc tế về quyền con người vào các vấn đề liên quan đến định hướng tình dục và bản dạng giới.

Nguyên tắc Yogyakarta đề cập đến một loạt các tiêu chuẩn nhân quyền và việc áp dụng chúng vào các vấn đề về khuynh hướng tình dục và bản dạng giới. Nguyên tắc khẳng định nghĩa vụ chính của các Quốc gia trong việc thực hiện các quyền con người. Mỗi nguyên tắc đều kèm theo các khuyến nghị chi tiết đối với các Quốc gia. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng tất cả các bên đều có trách nhiệm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Các khuyến nghị bổ sung được gửi tới các chủ thể khác, bao gồm hệ thống nhân quyền của Liên hợp quốc, các tổ chức nhân quyền quốc gia, các phương tiện truyền thông, các tổ chức phi chính phủ và các nhà tài trợ.

Trong thực tế, các hành vi vi phạm quyền con người đã được thực hiện vì lí do liên quan đến khuynh hướng tình dục hoặc bản dạng giới. Mặc dù các cơ chế quyền con người của Liên hợp quốc đã khẳng định nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo vệ hiệu quả tất cả mọi người khỏi sự phân biệt đối xử dựa trên khuynh hướng tình dục hoặc bản dạng giới. Tuy nhiên, phản ứng của cộng đồng quốc tế còn rời rạc và thiếu nhất quán, trong khi nhu cầu hiểu biết về các quy định luật nhân quyền quốc tế và việc áp dụng luật này đối với các vấn đề về khuynh hướng tình dục và bản dạng giới ngày càng được quan tâm. Nguyên tắc Yogyakarta thực hiện điều này và cũng chính là lập luận xác đáng cho quan điểm cho rằng: các quyền của người đồng tính không phải là các quyền mới. Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người và các văn kiện pháp lý quốc tế đều đã khẳng định quyền con người áp dụng cho tất cả mọi người. Điểm mới, nếu có chăng, chính là nhiệm vụ mạnh mẽ hơn để các nguyên tắc phổ quát này được áp dụng một cách nhất quán. Đây cũng chính là thông điệp mà nguyên tắc Yoyakarta về việc áp dụng luật quyền con người liên quan đến định hướng tình dục và bản dạng giới.

Có thể nói, bộ nguyên tắc Yogyakarta là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên ghi nhận và bảo vệ quyền đồng tính. Vào ngày 10 tháng 11 năm 2017, Nguyên tắc Yogyakarta + 10 đã bổ sung nghĩa vụ của nhà nước về việc áp dụng luật nhân quyền quốc tế liên quan đến xu hướng tình dục, biểu hiện giới và tình dục. Các quy tắc bổ sung cho các Nguyên tắc Yogyakarta xuất hiện từ sự giao thoa giữa những phát triển của luật nhân quyền quốc tế với sự hiểu biết mới về những vi phạm mà con người phải gánh chịu trên cơ sở khuynh hướng tình dục và bản dạng giới cũng như sự công nhận của khu vực và các cơ sở phân biệt của biểu hiện giới và đặc điểm giới tính. Bộ nguyên tắc này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tiến tới xóa bỏ hoàn toàn sự kỳ thị người đồng tính trên thế giới; các quốc gia đang xem xét, xây dựng Luật cho người đồng tính có thể xem bộ nguyên tắc này như nguồn để từ đó dựng lên một văn bản pháp luật phù hợp nhất cho quốc gia mình nhưng vẫn đảm bảo không vi phạm Luật quốc tế.

Nội dung của quy tắc Yogyakarta

Nguyên tắc Yogyakarta bao gồm 29 nguyên tắc và hướng dẫn cho các Quốc gia về nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ pháp lý của họ. Bộ Nguyên tắc cũng bao gồm 16 khuyến nghị hướng tới một số bên khác, bao gồm Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc, các cơ quan giám sát hiệp ước, NHRIs, các tổ chức thương mại và các bên khác. 29 nguyên tắc bao gồm:

Nguyên tắc 1: Quyền được thụ hưởng mọi quyền con người trên toàn cầu

Nguyên tắc 2: Các quyền về bình đẳng và không phân biệt đối xử

Nguyên tắc 3: Quyền được công nhận trước pháp luật

Nguyên tắc 4: Quyền được sống

Nguyên tắc 5: Quyền an toàn cá nhân

Nguyên tắc 6: Quyền riêng tư

Nguyên tắc 7: Quyền tự do và không bị tùy tiện tước bỏ tự do

Nguyên tắc 8: Quyền được xét xử công bằng

Nguyên tắc 9: Quyền được đối xử nhân đạo trong lúc bị giam giữ

Nguyên tắc 10: Quyền không phải chịu tra tấn và sự đối xử và trừng phạt độc ác, vô nhân đạo và mang tính lăng nhục

Nguyên tắc 11: Quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức bóc lột và buôn bán con người

Nguyên tắc 12: Quyền lao động

Nguyên tắc 13: Quyền được hưởng an sinh xã hội và các biện pháp bảo trợ xã hội khác

Nguyên tắc 14: Quyền được hưởng một tiêu chuẩn sống đầy đủ

Nguyên tắc 15: Quyền được có nơi ở đầy đủ

Nguyên tắc 16: Quyền được giáo dục

Nguyên tắc 17: Quyền được hưởng sự chăm sóc y tế tốt nhất có thể

Nguyên tắc 18: Quyền được bảo vệ khỏi sự lạm dụng y tế

Nguyên tắc 19: Quyền tự do ý kiến và tự do biểu đạt

Nguyên tắc 20: Quyền tự do hội họp và liên kết một cách hòa bình

Nguyên tắc 21: Quyền tự do về tư tưởng, lương tâm và tôn giáo

Nguyên tắc 22: Quyền tự do di chuyển

Nguyên tắc 23: Quyền được xin tị nạn

Nguyên tắc 24: Quyền được lập gia đình

Nguyên tắc 25: Quyền được tham gia vào đời sống công cộng

Nguyên tắc 26: Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa

Nguyên tắc 27: Quyền phổ biến nhân quyền

Nguyên tắc 28: Quyền được hưởng sự khắc phục và bồi thường hiệu quả

Nguyên tắc 29: Trách nhiệm

Các nguyên tắc và đề xuất này phản ánh sự áp dụng luật về nhân quyền quốc tế tới đời sống và trải nghiệm của các cá nhân thuộc các khuynh hướng tính dục và bản dạng giới khác nhau, và không có điều nào trong các nguyên tắc và đề xuất này sẽ được diễn giải nhằm mục đích hạn chế hay bằng bất cứ cách nào giới hạn quyền lợi và sự tự do của các cá nhân trên theo các chuẩn mực hay luật pháp quốc tế, khu vực hay quốc gia.

Bộ nguyên tắc đã có một số những đóng góp quan trọng khi nhấn mạnh tính phổ biến của các quyền. Triết lý nền tảng của các nguyên tắc Yogyakarta được tìm thấy trong Nguyên tắc 1, trong đó nêu rõ: “Tất cả con người sinh ra đều tự do, bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Con người thuộc mọi xu hướng tình dục và bản dạng giới đều được hưởng đầy đủ các quyền con người”.

Điều 1 của Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người (UDHR) nêu rõ: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái”. Mọi người được quyền hưởng mọi quyền con người mà không bị phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục hay bản dạng giới. Mọi người được quyền hưởng sự bình đẳng trước pháp luật và sự bảo vệ của pháp luật mà không phải chịu sự phân biệt đó cho dù sự hưởng thụ của một quyền con người khác có bị ảnh hưởng hay không. Pháp luật sẽ nghiêm cấm bất kì sự phân biệt nào như thế và đảm bảo sự bảo vệ bình đẳng và hiệu quả để chống lại phân biệt đối xử.

Sự phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới bao gồm bất kì sự phân biệt, sự ngoại trừ, sự hạn chế hay lựa chọn dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới với mục đích hay tác động làm vô hiệu hóa hay làm suy yếu sự bình đẳng trước pháp luật hay sự bảo vệ công bằng của pháp luật, hay đối với sự thừa nhận, hưởng thụ hay thực hành, một cách bình đẳng, mọi quyền con người và tự do cơ bản. Sự phân biệt dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới có thể, và thường hay như thế, đi chung và làm cho sự phân biệt đối xử dựa trên các mặt khác, bao gồm giới tính, chủng tộc, tuổi tác, tôn giáo, sự tàn tật, sức khỏe và địa vị kinh tế, tồi tệ thêm.

Đóng góp tiếp theo của bộ nguyên tắc chính là nhận diện xu hướng tính dục và bản dạng giới là những dấu hiệu phân biệt đối xử. Trong khi khái niệm xu hướng tính dục lần đầu tiên được nêu rõ trong luật quốc tế vào năm 1992, thì phải mất nhiều thời gian hơn để khái niệm về bản dạng giới được công nhận. Trên thực tế, vào cuối năm 2003 khi Brazil đề xuất một nghị quyết tại Ủy ban Nhân quyền lúc bấy giờ về ‘Quyền con người và khuynh hướng tính dục’, nghị quyết ‘đã bày tỏ mối quan ngại sâu sắc về việc xảy ra vi phạm nhân quyền trên thế giới đối với những người có lý do về xu hướng tính dục của họ”. Bản sắc giới hoàn toàn không có trong khuôn khổ luật nhân quyền quốc tế.

Bước đột phá trong việc đưa ra khái niệm về bản dạng giới phải đợi đến khi ban hành ‘Nguyên tắc Yogyakarta về việc áp dụng luật nhân quyền quốc tế đối với khuynh hướng tình dục và bản dạng giới’ vào năm 2007. Nguyên tắc Yogyakarta đã tìm cách chắt lọc tình trạng hiện tại của luật quốc tế hiện nay áp dụng cho những người bị phân biệt đối xử dựa trên khuynh hướng tình dục và bản dạng giới dưới hình thức 29 nguyên tắc về một loạt các quyền bao gồm các quyền dân sự, chính trị, xã hội, văn hóa và kinh tế. Các nguyên tắc lần đầu tiên trong luật quốc tế đã định nghĩa cả thuật ngữ “khuynh hướng tình dục” và “bản dạng giới”, do đó chỉ ra cách quyền của một người có thể bị vi phạm dựa trên các cơ sở nêu trên.

Bước đột phá này trong Nguyên tắc Yogyakarta trong việc lần đầu tiên đưa khái niệm bản dạng giới vào luật pháp quốc tế có liên quan rất nhiều đến thực tế là vấn đề bản dạng giới đã được các nhà hoạt động LGBT liên tục khẳng định là mối quan tâm chính của họ. Chính sự bền bỉ của họ đã đảm bảo rằng Nguyên tắc Yogyakarta đã tạo ra một bước nhảy vọt (về mặt luật pháp quốc tế) và đưa ra khái niệm về bản dạng giới.

Điều tiếp theo là sự kết hợp giữa các khái niệm về khuynh hướng tình dục và bản dạng giới trong luật quốc tế là nghị quyết lịch sử năm 2011 do Nam Phi tài trợ ‘đã yêu cầu Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc thực hiện một nghiên cứu, sẽ được hoàn thành vào tháng 12/ 2011, ghi lại các luật và thực tiễn phân biệt đối xử và các hành vi bạo lực đối với các cá nhân dựa trên khuynh hướng tình dục và bản dạng giới của họ”.

Đến nay mối liên hệ về khái niệm giữa ‘khuynh hướng tình dục và’ bản dạng giới ‘đã được thiết lập rõ ràng và nghị quyết tiếp theo của Hội đồng Nhân quyền năm 2014 cũng’ kêu gọi Văn phòng Cao ủy cập nhật báo cáo trước đó của Cao ủy về xu hướng tình dục và bản dạng giới ‘.

Bài viết cùng chủ đề:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *