Bạo lực giới là vấn đề không của riêng quốc gia, vùng lãnh thổ nào, trong đó có Việt Nam. Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam cho thấy, 62,9% phụ nữ ở Việt Nam từng trải qua một hoặc hơn một hình thức bạo lực, bao gồm bạo lực thể xác, tình dục; 90,4% nạn nhân của bạo lực không tìm kiếm bất kỳ sự trợ giúp nào từ chính quyền, một nửa trong số đó chưa từng kể với ai về tình trạng bị bạo lực của mình.
Phần 3: Những quy định về phòng, chống bạo lực giới trong gia đình
Các quy định pháp luật về bạo lực gia đình được thể hiện trong Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2007) và các văn bản pháp luật khác như Luật Bình đẳng giới (2006), Bộ luật Dân sự (2015), Bộ luật Hình sự (2015), Luật Hôn nhân và Gia đình (2014), Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (2016)…

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 đã đưa ra 09 hành vi bạo lực gia đình (Điều 1). Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình dựa trên cơ sở kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải phù hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam (Điều 3).
– Các quy định pháp luật về phòng ngừa bạo lực gia đình
Theo quy định của Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007, các hoạt động phòng ngừa bạo lực gia đình gồm: thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình, hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình, tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phòng ngừa bạo lực gia đình (Chương 3). Nội dung tuyên truyền và các hình thức truyền thông về phòng, chống bạo lực gia đình được quy định khá rõ trong Điều 10 và Điều 11 của Luật này.
– Các chế tài xử lý hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
Các quy định xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình được thể hiện tại Điều 42, 43, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Tùy vào tính chất, mức độ vi phạm, người có hành vi vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Xử lý hành chính về các hành vi bạo lực gia đình được quy định cụ thể Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định 144/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình.
Dưới góc độ hình sự, tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm, các hành vi bạo lực gia đình có thể cấu thành các tội như: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác(Điều 134) hoặc Tội hành hạ người khác (Điều 140) hoặc Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 181)…
– Các quy định pháp luật về bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình
Theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ khỏi hành vi bạo lực gia đình bằng các biện pháp: buộc người gây bạo lực chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình; cấp cứu nạn nhân bạo lực gia đình; xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về tố tụng hình sự đối với người có hành vi bạo lực gia đình; áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc với người có hành vi bạo lực gia đình. Bên cạnh đó, nạn nhân bạo lực gia đình được hỗ trợ chăm sóc y tế, tư vấn và hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu.
Phòng, chống những hủ tục gây hại đối với phụ nữ như tảo hôn, hôn nhân ép buộc, lựa chọn giới tính thai nhi.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định rõ về khái niệm “cưỡng ép hôn nhân” và “tảo hôn” (Điều 3). Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ tại Điều 181. Bên cạnh đó, việc lựa chọn giới tính thai nhi cũng bị pháp luật nghiêm cấm (Điều 5, Luật Hôn nhân và gia đình).

















