Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
10825

Bình đẳng giới – tiêu chí quan trọng phản ánh trình độ phát triển văn minh của mỗi quốc gia

Bình đẳng giới là một trong những tiêu chí quan trọng phản ánh trình độ phát triển văn minh của mỗi quốc gia. Đây không chỉ là vấn đề về quyền con người mà còn là động lực thúc đẩy tiến bộ xã hội, phát triển kinh tế bền vững và xây dựng một xã hội công bằng, nhân văn. Phụ nữ chiếm gần một nửa dân số và là lực lượng quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống, từ gia đình đến lao động sản xuất, quản lý xã hội và xây dựng đất nước. Vì vậy, bảo đảm quyền của phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới không chỉ là trách nhiệm pháp lý của Nhà nước mà còn là yêu cầu tất yếu trong tiến trình phát triển quốc gia.

Trong hệ thống pháp luật quốc tế, quyền của phụ nữ được khẳng định mạnh mẽ trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) năm 1979 và nhiều văn kiện quốc tế khác. Theo đó, phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trong mọi lĩnh vực của đời sống như chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, lao động và đời sống gia đình. Mọi hành vi phân biệt đối xử, bạo lực giới, xâm hại thân thể và tinh thần đối với phụ nữ đều bị lên án và phải được loại bỏ.

Bình đẳng giới

Việc nội luật hóa các qui định của pháp luật quốc tế về quyền của phụ nữ ở Việt Nam đã tạo được khung pháp lý khá đầy đủ. Hiến pháp 2013 khẳng định công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt, Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới và nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới (Điều 26). Cụ thể hoá nội dung này, hàng loạt văn bản qui phạm đã được ban hành như Luật Bình đẳng giới 2006, Luật Phòng, chống mua bán người 2024, Luật Việc làm 2013, Luật Đất đai 2024, Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Luật Bảo hiểm xã hội 2024, Luật Ban hành văn bản qui phạm pháp luật 2015, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Luật Trợ giúp pháp lý 2017, Bộ luật Lao động 2019, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 và Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 qui định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới; Quyết định số 2232/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới giai đoạn 2021 – 2025.

Nhiều qui định mang tính đột phá được ban hành như: Luật Bảo hiểm xã hội 2014 qui định lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội được nghỉ nguyên lương và phụ cấp khi vợ sinh con; Bộ luật Lao động 2019 tăng tuổi nghỉ hưu của phụ nữ theo lộ trình; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 qui định tỷ lệ tối thiểu 35% ứng cử viên là phụ nữ trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân; Luật Ngân sách nhà nước 2015 lần đầu tiên qui định bảo đảm ưu tiên bố trí ngân sách để thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới là một trong các nguyên tắc quản lý nhà nước về ngân sách. Bên cạnh đó, nhiều chương trình, đề án, chính sách đã được ban hành nhằm triển khai các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới như: Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020; Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020; Chương trình mục tiêu Phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020 trong đó có Dự án hỗ trợ thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; Đề án Giảm thiểu tình trạng bạo lực gia đình tại khu vực nông thôn Việt Nam giai đoạn 2015 – 2020; Đề án Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng DTTS giai đoạn 2015-2025 (giai đoạn I); Chương trình Phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới giai đoạn 2021 – 2025; Đề án Thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2020; Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030; Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Quyết định số 1790/QĐ-TTg ngày 23/10/2021 về phê duyệt chương trình truyền thông về bình đẳng giới đến năm 2030; Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030; Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2025…

Trên cơ sở kế thừa Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, tiếp tục thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, góp phần đạt được các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030, ngày 03/3/2021, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 28/NQ-CP về Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030. Chiến lược hướng tới mục tiêu tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ và nam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Chiến lược đã đề ra 6 mục tiêu, 20 chỉ tiêu và 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để triển khai, thực hiện. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1790/QĐ-TTg ngày 23/10/2021 phê duyệt Chương trình truyền thông về bình đẳng giới đến năm 2030. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có Chương trình truyền thông riêng về bình đẳng giới nhằm tăng cường bình đẳng giới và nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề này, qua đó giúp ngăn ngừa các rủi ro thường gặp đối với các giới, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em gái. Hằng năm, Việt Nam đã xuất bản và phát hành miễn phí gần 10 đầu sản phẩm truyền thông với trên 600.000 bản, đặc biệt tờ rơi tuyên truyền về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị được xuất bản song ngữ bằng tiếng Việt với một tiếng DTTS như HMông, Ê-đê, Khơ-me.

Hệ thống các cơ quan, tổ chức tham mưu và thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam bao gồm Bộ Nội vụ, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.

Tại các địa phương, công tác bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ về bình đẳng giới cho đội ngũ công chức, viên chức đã được triển khai sáng tạo; hằng năm bồi dưỡng, tập huấn kiến thức giới, phân tích giới và lồng ghép giới cho hàng ngàn lượt cán bộ, công chức, viên chức tại cơ quan, đơn vị và cán bộ phụ trách công tác bình đẳng giới tại các địa phương.

Chỉ số xếp hạng về bình đẳng giới của Việt Nam năm 2024 (công bố năm 2025) tăng 15 bậc so với 5 năm trước, hiện ở vị trí thứ 72/146 các quốc gia được xếp hạng). Trong 20 năm qua, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất và là một trong những nước hoàn thành sớm Mục tiêu Thiên niên kỷ thứ 3 (MDG3) về bình đẳng giới cũng như đang nỗ lực thực hiện các Mục tiêu số 5 và 10 về xóa bỏ bất bình đẳng, thúc đẩy bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái”.

Về chính trị, đến năm 2024, sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị Việt Nam tiếp tục được cải thiện. Trong Quốc hội khóa XV, phụ nữ chiếm 30,26% tổng số đại biểu (151/499 người), cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới. Ở cấp trung ương, phụ nữ giữ nhiều vị trí lãnh đạo quan trọng như Phó Chủ tịch nước và Phó Chủ tịch Quốc hội. Trong các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ, 14/30 cơ quan có lãnh đạo chủ chốt là nữ, chiếm khoảng 46,7%. Ở cấp địa phương, 74,6% tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có lãnh đạo chủ chốt là nữ (Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân). Ngoài ra, phụ nữ còn giữ 3/12 vị trí Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội và 4/30 vị trí bộ trưởng hoặc tương đương.

Về kinh tế và lao động, tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi lao động tham gia thị trường lao động ở Việt Nam đạt trên 70%, cao hơn đáng kể so với mức trung bình của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (43,9%). Bên cạnh đó, phụ nữ ngày càng khẳng định vai trò trong hoạt động kinh doanh; khoảng 28–30% doanh nghiệp tại Việt Nam có chủ sở hữu hoặc người đại diện pháp luật là nữ, đặc biệt phổ biến trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa – khu vực chiếm hơn 90% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động và đóng góp 40% GDP, tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Ngoài ra, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tỉ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo doanh nghiệp tương đối cao và thường xuyên nằm trong nhóm các quốc gia có tỉ lệ doanh nghiệp do phụ nữ lãnh đạo cao trên thế giới. Tỉ lệ phụ nữ tham gia hội đồng quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam đạt khoảng 15-17%.

Các cơ quan chức năng cũng triển khai các hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân, giảm thiểu bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Nhiều mô hình mới đã được triển khai thực hiện như Trung tâm hỗ trợ kết hôn, Địa chỉ tin cậy ở cộng đồng, Ngôi nhà bình yên… bước đầu đáp ứng nhu cầu của các nhóm phụ nữ.

Việt Nam cũng thuộc nhóm dẫn đầu so với các quốc gia đối chứng về chỉ số trao quyền cho phụ nữ trên 3 phương diện: sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình, bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái, và trao quyền kinh tế-xã hội.

Việt Nam luôn khẳng định vai trò, trách nhiệm trong việc tham gia các diễn đàn hợp tác đa phương và song phương về bình đẳng giới, chủ động trao đổi và chia sẻ tại các diễn đàn quốc tế những thông tin về chính sách và thực tiễn bảo đảm bình đẳng giới và quyền của phụ nữ. Đồng thời, Việt Nam cũng đề xuất sáng kiến thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ; chủ động đóng góp ý kiến, quan điểm vào các dự thảo nghị quyết có nội dung liên quan tới bình đẳng giới, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, cụ thể: tham gia tích cực và hiệu quả vào Khóa họp thứ 69 của Ủy ban Địa vị phụ nữ của Hội đồng Kinh tế – Xã hội LHQ với chủ đề rà soát kết quả 30 năm thực hiện Tuyên bố và Cương lĩnh hành động Bắc Kinh 1995 về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ; tham gia Diễn đàn Phụ nữ và kinh tế APEC; tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Lộ trình Santiago về Phụ nữ và tăng trưởng bao trùm; triển khai Dự án về tăng quyền năng cho phụ nữ do LHQ (UN WOMEN) tài trợ tham gia và hoàn thành tốt trách nhiệm là thành viên Ủy ban Phụ nữ ASEAN (ACW) và Ủy ban Thúc đẩy và bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em ASEAN (ACWC); tham dự các hội nghị, hội thảo định kỳ về bình đẳng giới và nâng cao quyền năng của phụ nữ, tiếp tục hoàn thiện chính sách, tăng cường hợp tác và huy động nguồn lực nhằm thực hiện thành công Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 – 2030 và Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững – không để ai bị bỏ lại phía sau.

Phụ nữ Việt Nam tham gia hiệu quả, trách nhiệm trong lực lượng gìn giữ hoà bình của LHQ với nhiều dấu ấn và hiện có tỉ lệ nữ quân nhân/chiến sĩ tham gia hoạt động này cao hơn mặt bằng chung của LHQ.

Tháng 01/2024, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về Phụ nữ, hòa bình và an ninh giai đoạn 2024 – 2030 nhằm bảo đảm thúc đẩy hơn nữa bình đẳng giới; nâng cao vai trò, vị thế, tiếng nói, quyền lợi và nghĩa vụ của phụ nữ trong tham gia các lĩnh vực hòa bình, an ninh, góp phần duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững của quốc gia và trên phạm vi quốc tế. Ngày 9/4/2024, Hội đồng Kinh tế Xã hội LHQ đã bầu Việt Nam vào Hội đồng Chấp hành Cơ quan LHQ về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) nhiệm kỳ 2025-2027″.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, phụ nữ cũng phải đối mặt với những thách thức mới như khoảng cách số, áp lực kép giữa công việc và gia đình, nguy cơ bị thay thế trong một số ngành nghề truyền thống bởi tự động hóa và công nghệ. Nếu không có chính sách hỗ trợ phù hợp, nhiều phụ nữ có thể bị tụt lại phía sau trong quá trình phát triển mới.

Để thúc đẩy bình đẳng giới và bảo đảm tốt hơn quyền của phụ nữ, trước hết cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách theo hướng thực chất hơn, bảo đảm phụ nữ không chỉ có quyền trên giấy mà còn có khả năng tiếp cận và thực thi quyền đó trong đời sống hằng ngày. Cần tăng cường giám sát việc thực hiện pháp luật về lao động nữ, phòng chống bạo lực giới và bảo vệ phụ nữ yếu thế.

Giáo dục bình đẳng giới phải bắt đầu từ gia đình, nhà trường và cộng đồng nhằm thay đổi nhận thức xã hội, xóa bỏ định kiến giới và xây dựng văn hóa tôn trọng phụ nữ. Trẻ em trai và trẻ em gái cần được giáo dục bình đẳng từ sớm về cơ hội học tập, lựa chọn nghề nghiệp và trách nhiệm gia đình.

Cần tạo điều kiện mạnh mẽ hơn cho phụ nữ tham gia lãnh đạo, khởi nghiệp và phát triển kinh tế; mở rộng tiếp cận công nghệ số, kỹ năng số và các nguồn lực tài chính cho phụ nữ, đặc biệt ở khu vực nông thôn và vùng dân tộc thiểu số. Đồng thời, hệ thống hỗ trợ pháp lý, tư vấn tâm lý và bảo vệ nạn nhân bạo lực giới phải được củng cố để phụ nữ thực sự cảm thấy an toàn và được bảo vệ.

Bình đẳng giới không phải là trao đặc quyền cho phụ nữ mà là tạo ra sự công bằng để cả nam và nữ đều có cơ hội phát triển như nhau. Một xã hội văn minh không thể tồn tại khi một nửa dân số vẫn chịu bất công hoặc bị hạn chế cơ hội. Khi quyền của phụ nữ được tôn trọng và bảo vệ đầy đủ, đó không chỉ là thắng lợi của riêng phụ nữ mà còn là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững, hạnh phúc và tiến bộ của cả quốc gia.

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *