Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
11654

Quyền có việc làm là nền tảng của an sinh xã hội và sự phát triển quốc gia

Việc làm không chỉ là nguồn thu nhập bảo đảm cuộc sống mà còn là điều kiện để mỗi con người khẳng định giá trị bản thân, tham gia vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội và thực hiện các quyền cơ bản khác. Quyền có việc làm là một trong những quyền kinh tế, xã hội quan trọng, gắn liền với quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền phát triển của con người. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và những biến động của nền kinh tế thế giới, bảo đảm quyền có việc làm và phát triển thị trường lao động bền vững trở thành nhiệm vụ chiến lược của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Bảo đảm quyền làm việc

Trong hệ thống pháp luật quốc tế, quyền có việc làm được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966. Theo đó, mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện lao động công bằng và thuận lợi, được bảo vệ chống thất nghiệp, được trả công công bằng và được thành lập, gia nhập công đoàn để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Quyền có việc làm không chỉ là có một công việc để kiếm sống mà còn bao gồm quyền được làm việc trong môi trường an toàn, bình đẳng, tôn trọng nhân phẩm và có cơ hội phát triển nghề nghiệp.

Hiến pháp 2013 tiếp tục hoàn thiện và quy định đầy đủ về quyền được có việc làm tại Điều 35: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc. Người làm công ăn lương, được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu”.

Việt Nam đã tham gia 25/189 công ước của ILO liên quan đến quyền của người lao động, trong đó có 9/10 công ước cơ bản. Đây là mức độ cam kết cao, thể hiện nỗ lực rất lớn của Việt Nam trong điều kiện kinh tế-xã hội còn nhiều khó khăn. Bộ luật Lao động 2019 đã nội luật hóa nội hàm của một số công ước quan trọng của ILO (Công ước số 98, 88, 159). Quyền có việc làm, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp quy định trong các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên đã được nội luật hoá trong Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại. Luật Việc làm 2025 thay thế Luật Việc làm năm 2013 sửa đổi toàn diện, hiện đại hóa chính sách lao động – việc làm, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và tăng cường kết nối cung – cầu lao động một cách bền vững; người lao động được bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp khi tham gia hoạt động dịch vụ việc làm trên môi trường mạng, tạo cơ hội cho lao động ở vùng sâu, vùng xa, lao động yếu thế được tiếp cận thông tin lao động, việc làm.

Nhà nước Việt Nam ban hành các chính sách về việc làm và phát triển thị trường lao động để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, tận dụng lợi thế để phát triển, tiến kịp khu vực và thế giới. Trên cơ sở Bộ luật Lao động, Luật Việc làm và Nghị quyết số 06/NQ-CP ngày 10/01/2023 của Chính phủ về phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, hiệu quả, bền vững và hội nhập nhằm phục hồi kinh tế-xã hội, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành nhằm quy định cụ thể các chính sách về hỗ trợ tạo và tự tạo việc làm cho người lao động, nhất là cho các nhóm lao động yếu thế; các chính sách hỗ trợ người lao động thất nghiệp nhanh chóng quay trở lại thị trường lao động (chính sách bảo hiểm thất nghiệp); các chính sách về tư vấn, giới thiệu việc làm, cung ứng lao động, định hướng nghề nghiệp, thông tin dự báo thị trường lao động nhằm kết nối cung cầu lao động; các chính sách bảo hiểm xã hội, an toàn vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp… góp phần đẩy mạnh giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống cho người dân.

Năm 2025, vốn tín dụng chính sách xã hội đã hỗ trợ đầu tư sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho gần 817 nghìn lao động, trong đó gần 8,6 nghìn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, gần 5,5 nghìn người chấp hành xong án phạt tù có việc làm; giúp hơn 68 nghìn học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn học tập; xây dựng hơn 1.958 nghìn công trình nước sạch, công trình vệ sinh ở nông thôn; xây dựng gần 3 nghìn căn nhà ở cho hộ nghèo ổn định cuộc sống, gần 10,4 nghìn căn nhà ở xã hội cho các đối tượng thu nhập thấp… góp phần ổn định và phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Tính đến tháng 8/2025, cả nước có gần 1.900 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) trên toàn quốc, tỉ lệ học viên có việc làm sau tốt nghiệp duy trì ở mức hơn 90%. Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) được Quốc hội thông qua tháng 12/2025, đưa nhiều nội dung nâng cao chất lượng nhân lực, nhất là lực lượng lao động có kỹ năng để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế.

Thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng từ 5,5 triệu đồng năm 2020 lên 8,4 triệu đồng năm 2025. Tình hình việc làm tiếp tục được cải thiện. Năm 2025, lao động có việc làm là 52,4 triệu người, tăng 578,3 nghìn người (tương ứng tăng 1,1% so với năm 2024). Tỉ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2025 ở mức thấp 2,22%. Trong đó, khu vực thành thị là 2,51% và khu vực nông thôn là 2,05%.

Hệ thống chính sách tiền lương khu vực sản xuất, kinh doanh được tiếp tục hoàn thiện theo cơ chế thị trường; bảo đảm nhà nước không can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp; tiền lương tối thiểu vùng được điều chỉnh theo lộ trình phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước, khả năng chi trả của doanh nghiệp và bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động, hài hòa lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động; tiền lương bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương tăng trên 9%/năm, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người lao động.

Cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các huyện nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tăng cường. Đời sống người dân không ngừng được cải thiện; tạo sinh kế và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Việt Nam chú trọng triển khai Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045, bảo đảm tiến độ, chất lượng đề ra, đặc biệt quan tâm phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp có chương trình phù hợp để mở thêm các chuyên ngành mới liên quan đến Cách mạng công nghiệp 4.0; rà soát, nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn; khẩn trương thực hiện chuyển đổi số để tăng cường kết nối cung-cầu lao động qua nền tảng số.

Việt Nam phối hợp chặt chẽ với ILO và các đối tác song phương trong thực hiện các dự án hỗ trợ kỹ thuật nhằm thực hiện hiệu quả các chính sách, pháp luật về lao động, việc làm như: dự án Thúc đẩy xây dựng khuôn khổ quan hệ lao động mới bảo đảm phù hợp với Tuyên bố của ILO về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động, dự án “An toàn và sức khỏe cho người lao động-An toàn và sức khỏe cho lao động trẻ”; Chương trình hợp tác quốc gia Việt Nam – ILO về Việc làm bền vững 2017-2021.

Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Di cư quốc tế (IOM), tham gia tích cực các hoạt động của ILO, các nước trong và ngoài khu vực ASEAN. Việt Nam cũng chủ động tham gia các diễn đàn quốc tế trong lĩnh vực lao động di cư như Diễn đàn ASEAN về lao động di cư, Tiến trình Colombo (Hội đàm cấp bộ trưởng về quản lý việc làm ngoài nước và lao động theo hợp đồng cho các nước phái cử ở Châu Á) và Diễn đàn đối thoại cấp cao Abu Dhabi (diễn đàn đối thoại và hợp tác giữa các quốc gia phái cử lao động). Nghiên cứu đánh giá chính sách quản lý lao động di cư trong ASEAN; ban hành Hướng dẫn ASEAN về lồng ghép giới trong chính sách lao động và việc làm; thúc đẩy nghiên cứu về hỗ trợ lao động di cư tái hòa nhập sau khi về nước.

Tuy nhiên, việc bảo đảm quyền có việc làm vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức. Chất lượng việc làm chưa đồng đều; lao động phi chính thức vẫn chiếm tỷ lệ lớn, khiến nhiều người lao động thiếu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và điều kiện lao động ổn định. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn, thất nghiệp trong thanh niên, lao động lớn tuổi khó chuyển đổi nghề nghiệp vẫn còn phổ biến. Sự chênh lệch giữa đào tạo và nhu cầu thực tế của thị trường lao động khiến nhiều sinh viên ra trường khó tìm việc phù hợp.

Bên cạnh đó, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức lớn. Nhiều ngành nghề truyền thống có nguy cơ bị thay thế, trong khi các kỹ năng mới về công nghệ, số hóa, quản trị hiện đại lại chưa được đào tạo đầy đủ. Nếu không có chính sách thích ứng kịp thời, một bộ phận lao động có thể bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi số.

Lao động nữ, lao động khuyết tật, lao động dân tộc thiểu số và người lao động di cư cũng vẫn đối mặt với nhiều rào cản trong tiếp cận việc làm bình đẳng và bền vững. Tình trạng vi phạm quyền lao động như nợ lương, chậm đóng bảo hiểm xã hội, điều kiện làm việc không bảo đảm an toàn vẫn xảy ra ở một số nơi, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động.

Để bảo đảm tốt hơn quyền có việc làm và phát triển thị trường lao động hiện đại, trước hết cần tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật lao động theo hướng bảo vệ tốt hơn quyền của người lao động, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển bền vững. Cần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với tạo việc làm chất lượng cao, hỗ trợ khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, khởi nghiệp sáng tạo và phát triển kinh tế xanh, kinh tế số.

Đào tạo nghề phải gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp cần đổi mới mạnh mẽ theo hướng linh hoạt, thực hành và cập nhật kỹ năng số. Chính sách đào tạo lại, nâng cao tay nghề cho người lao động trung niên và lao động bị ảnh hưởng bởi tự động hóa cần được ưu tiên.

Cần mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và nâng cao hiệu quả của các trung tâm dịch vụ việc làm. Đồng thời, phải bảo đảm quyền lao động bình đẳng cho phụ nữ, người yếu thế và lao động khu vực phi chính thức, để không ai bị loại khỏi thị trường lao động vì hoàn cảnh xã hội hay hạn chế cá nhân.

Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần thay đổi nhận thức về nghề nghiệp, coi trọng kỹ năng thực hành và giá trị của lao động chân chính thay vì chỉ chạy theo bằng cấp. Việc làm bền vững phải gắn với nhân phẩm, thu nhập công bằng và cơ hội phát triển lâu dài cho mỗi người lao động.

Quyền có việc làm là nền tảng của an sinh xã hội và sự phát triển quốc gia. Một xã hội công bằng không chỉ là nơi mọi người có việc để làm mà còn là nơi mỗi người được làm việc trong điều kiện достой, an toàn và có tương lai. Khi thị trường lao động phát triển lành mạnh, minh bạch và bao trùm, đó chính là động lực mạnh mẽ để xây dựng một Việt Nam thịnh vượng, công bằng và không để ai bị bỏ lại phía sau.

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *