Bạo lực giới là vấn đề không của riêng quốc gia, vùng lãnh thổ nào, trong đó có Việt Nam. Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam cho thấy, 62,9% phụ nữ ở Việt Nam từng trải qua một hoặc hơn một hình thức bạo lực, bao gồm bạo lực thể xác, tình dục; 90,4% nạn nhân của bạo lực không tìm kiếm bất kỳ sự trợ giúp nào từ chính quyền, một nửa trong số đó chưa từng kể với ai về tình trạng bị bạo lực của mình.
Phần 2: Những quy định trong Luật Trợ giúp pháp lý đối với các nạn nhân của bạo lực giới ở Việt Nam
Hiện Việt Nam là quốc gia tích cực trong việc xây dựng chính sách và luật pháp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ. Cụ thể, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) năm 1981 và cam kết với kế hoạch hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển tại Cai- rô năm 1994 và Cương lĩnh hành động của Hội nghị quốc tế về phụ nữ tại Bắc Kinh năm 1995. Nỗ lực của Việt Nam trong thực hiện và báo cáo về việc thực hiện Công ước CEDAW cũng như các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đã góp phần tạo ra một khuôn khổ pháp lý và chính sách để giải quyết tình trạng bạo lực giới ở Việt Nam (UNFPA, 2012) mặc dù Việt Nam chưa có một quy định pháp lý chung về bạo lực trên cơ sở giới.

Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL) và các văn bản hướng dẫn thi hành[1] thì nạn nhân bạo lực giới thuộc đối tượng sau đây sẽ được các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí trong các vụ việc liên quan trực tiếp đến các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trên tất cả các lĩnh vực pháp luật, trừ kinh doanh, thương mại:
– Là người nghèo – người thuộc hộ nghèo (Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015)[2].
– Người có công với cách mạng: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng; Mẹ đẻ, vợ, con của liệt sĩ; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ.
– Người từ đủ 60 tuổi trở lên, sống cô đơn, không có nơi nương tựa hoặc là người dưới 16 tuổi không nơi nương tựa;
– Người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn; người bị nhiễm chất độc hóa học, bị nhiễm HIV mà không có nơi nương tựa.
– Người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.
– Các đối tượng khác theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên. Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ hướng dẫn cụ thể về người được trợ giúp pháp lý theo các điều ước quốc tế.

Ngoài ra, theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình được tư vấn pháp luật để giải quyết tình trạng bạo lực gia đình (Khoản 1, Điều 24). Theo Luật Phòng, chống mua bán người và các văn bản hướng dẫn thi hành, phụ nữ là nạn nhân của hành vi mua bán người được tư vấn pháp luật để phòng ngừa bị mua bán trở lại và được trợ giúp pháp lý để làm thủ tục đăng ký hộ khẩu, hộ tịch, nhận chế độ hỗ trợ, đòi bồi thường thiệt hại, tham gia tố tụng và các thủ tục pháp lý khác có liên quan đến vụ việc mua bán người (Điều 36). Theo đó, nạn nhân là người bị xâm hại bởi hành vi quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 3 của Luật:
– Mua bán người theo quy định tại Điều 119 và Điều 120 Bộ luật hình sự.
– Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.
– Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác hoặc để thực hiện hành vi nêu trên.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 11/2014/TT-BTP ngày 17/4/2013 quy định về bảo đảm bình đẳng giới trong TGPL (để thay thế Thông tư số 07/2011/TT-BTP). Thông tư đã quy định rõ hơn về các nội dung TGPL khi người được TGPL là người mẹ, trẻ em gái, nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân bị mua bán, nạn nhân bị xâm hại tình dục có yêu cầu được TGPL.

















