Bạo lực giới là vấn đề không của riêng quốc gia, vùng lãnh thổ nào, trong đó có Việt Nam. Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam cho thấy, 62,9% phụ nữ ở Việt Nam từng trải qua một hoặc hơn một hình thức bạo lực, bao gồm bạo lực thể xác, tình dục; 90,4% nạn nhân của bạo lực không tìm kiếm bất kỳ sự trợ giúp nào từ chính quyền, một nửa trong số đó chưa từng kể với ai về tình trạng bị bạo lực của mình.
Phần 4: Phòng chống bạo lực giới trong cộng đồng
1. Phòng, chống mua bán phụ nữ và trẻ em
Trong hoạt động lập pháp, Việt Nam đã có những mối quan tâm đặc biệt trong việc tạo ra một khung pháp lý để chống lại nạn mua bán người nói chung và mua bán phụ nữ nói riêng. Trước tiên phải kể đến Bộ luật Hình sự các thời kỳ (1985, 1999, 2015), Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (2020), Luật Bảo vệ, Chăm sóc, Giáo dục trẻ em (2004) đã quy định đầy đủ các tội liên quan đến mua bán phụ nữ và trẻ em được thực hiện trong quá trình mua bán người. Bên cạnh đó, nhiều văn bản pháp luật Việt Nam đã hàm chứa các quy định về vấn đề mua bán phụ nữ và trẻ em như: Luật phòng chống mua bán người (2011), Luật Xử lý vi phạm hành chính (2012); Pháp lệnh Phòng chống mại dâm (2003); Luật Hôn nhân và Gia đình (2014) và các văn bản pháp luật có liên quan khác.

Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 không giới hạn việc mua bán người chỉ đối với phụ nữ và trẻ em, cũng không còn xác định cụ thể việc mua bán người là phải ra nước ngoài hoặc qua biên giới, và có đề cập đến những mục đích mua bán người khác chứ không chỉ mại dâm. Để phòng ngừa các hành vi lợi dụng việc kết hôn, môi giới hôn nhân để buôn bán người, pháp luật về hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã có những quy định cụ thể và chi tiết về trình tự, thủ tục kết hôn. Đối với thủ tục đăng ký kết hôn, nếu kết quả phỏng vấn, thẩm tra, xác minh cho thấy việc kết hôn thông qua môi giới bất hợp pháp; kết hôn giả tạo không nhằm mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững; kết hôn không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc; lợi dụng việc kết hôn để mua bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác thì sẽ bị từ chối.
Người thực hiện hành vi mua bán người hoặc các hành vi có liên quan đến hành vi này tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành không còn quy định về tội mua bán phụ nữ như trước đây, có 2 điều luật quy định về mua bán người là: Mua bán người (điều 150) và mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151). Hình phạt đối với loại tội phạm này tương đối nghiêm khắc (cao nhất lên tới tù 20 năm hoặc chung thân), quy định hình phạt cao thể hiện thái độ quyết liệt của Nhà nước ta trong đấu tranh với loại tội phạm nguy hiểm này.
2. Phòng chống mại dâm
Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về quản lý các hoạt động dịch vụ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm đã từng bước được hoàn thiện tạo hành lang pháp lý thuận lợi trong công tác phòng chống tệ nạn mại dâm, ngăn ngừa tình trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em vì mục đích mại dâm. Văn bản quy định tập trung nhất về vấn đề mại dâm là Pháp lệnh phòng, chống mại dâm số 10/2003/PL-UBTVQH11 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
– Các quy định xử lý hành vi vi phạm liên quan đến mại dâm
Pháp lệnh mại dâm đã liệt kê các hành vi liên quan đến mại dâm bị nghiêm cấm, bao gồm: a) mua dâm; b) bán dâm; c) chứa mại dâm; d) tổ chức hoạt động mại dâm; e) cưỡng bức mại dâm; f) môi giới mại dâm; g) bảo kê mại dâm; h) lợi dụng kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm; i) các hành vi khác liên quan đến hoạt động mại dâm theo quy định của pháp luật. Các quy định xử lý những hành vi vi phạm liên quan đến mại dâm được đề cập đến trong Pháp lệnh phòng, chống mại dâm (từ Điều 22 đến 29).
Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự quy định việc trừng trị các hành vi “chứa mại dâm” (Điều 327), “môi giới mại dâm’ (Điều 328), “giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” (Điều 145). Điều 7 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 nghiêm cấm “hành vi dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm”.
3. Phòng chống quấy rối tình dục
Theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, người thực hiện hành vi quấy rối tình dục sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội; Phòng chống tệ nạn xã hội; Phòng cháy chữa cháy; Phòng ngừa và kiểm soát bạo lực gia đình. Cụ thể, tại điểm a khoản 1 Điều 5, Nghị định này quy định những người có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. Theo văn bản này, cử chỉ thô bạo, trêu ghẹo, khiêu khích, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác đều được xem là tội quấy rối tình dục.
Ngoài ra, trường hợp hành vi quấy rối xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người khác có thể bị xử lý hình sự về tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 155 Bộ Luật Hình sự 2015: “Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”. Người phạm tội có thể bị xử lý các khung hình phạt cao hơn nếu có các yếu tố tăng nặng.
Bên cạnh đó, để xử lý hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc, Bộ luật Lao động năm 2019 cũng cho phép người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần phải báo trước khi bị quấy rối và người lao động nếu có hành vi quấy rối người khác tại nơi làm việc sẽ bị sa thải. Quấy rối tình dục tại nơi làm việc là một hình thức phân biệt đối xử liên quan đến giới tính, gây ảnh hưởng xấu tiêu cực tới môi trường lao động, phá vỡ sự bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ. Nó dẫn đến những tác động xấu về tâm lý, thậm chí gây lo lắng, căng thẳng và tổn thương về cả thể xác lẫn tinh thần cho người bị hại. Môi trường công sở từ đó trở nên thiếu an toàn, hiệu suất cũng như năng suất làm việc bị giảm sút. Vì vậy, các hành vi quấy rối, xâm phạm tình dục nơi làm việc cần được đấu tranh mạnh mẽ để ngăn chặn và loại bỏ, tạo điều kiện cho tất cả mọi lao động phát huy tối đa khả năng để cống hiến hết mình cho nơi mà họ đã lựa chọn gắn bó.
















