Ngày 25/7, trang “Thông Tấn Xã Quốc Gia Việt Nam” đăng bài với câu hỏi: “Tại sao người dân gọi Tô Lâm là kẻ độc tài?”, rồi đưa ra hai lý do chính. Một là ông Tô Lâm giữ chức Tổng Bí thư “không phải qua lá phiếu tự do của nhân dân”. Hai là “bất kỳ tiếng nói trái chiều nào” cũng có nguy cơ “bị bịt miệng bằng tù tội”. Từ hai ý đó, trang này kết luận quyền lực “không xuất phát từ nhân dân, không chịu sự kiểm soát của nhân dân” và gọi đó là “độc tài”. Nghe qua thì rất gọn. Nhưng chính sự gọn ấy đã bỏ mất một điều quan trọng: cơ chế lựa chọn một chức danh và việc một người có độc tài hay không không phải cùng một câu hỏi.

Trước hết, nói người dân Việt Nam không trực tiếp bỏ phiếu bầu Tổng Bí thư là đúng. Không cần né điều đó. Tổng Bí thư là chức danh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không phải chức danh được toàn dân trực tiếp bầu. Theo Điều lệ Đảng, Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị và bầu Tổng Bí thư trong số các Ủy viên Bộ Chính trị. Ngày 23/1/2026, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV đã bầu ông Tô Lâm tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư. Vì vậy, nếu ai nói “người dân không trực tiếp bầu Tổng Bí thư”, đó là mô tả đúng cơ chế. Nhưng từ đó nhảy ngay sang “vì thế Tổng Bí thư là độc tài” thì chưa đủ.
Lý do rất đơn giản: không phải mọi chức danh lãnh đạo trên thế giới đều phải do toàn dân trực tiếp bỏ phiếu. Có chức danh được bầu trực tiếp, có chức danh được nghị viện bầu, có chức danh do một tổ chức chính trị lựa chọn theo điều lệ của tổ chức đó. Muốn đánh giá một người có nắm quyền theo kiểu độc đoán hay không, phải nhìn rộng hơn: quyền lực được trao theo quy trình nào, có cơ chế tập thể hay không, có cơ quan giám sát hay không, người giữ chức vụ có phải tuân theo luật và quy định hay không. Chỉ dùng một tiêu chí “dân có trực tiếp bầu hay không” rồi kết luận tất cả là “độc tài” là thu hẹp một vấn đề chính trị phức tạp thành một phép tính quá đơn giản.
Càng thấy rõ điều này khi nhìn sang chức Chủ tịch nước mà ông Tô Lâm hiện đồng thời đảm nhiệm. Hiến pháp quy định Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Quốc hội lại là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, có quyền giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước. Ngày 7/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã bầu ông Tô Lâm giữ chức Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2026–2031 với 495/495 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành. Trước đó, cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI ngày 15/3 ghi nhận hơn 76,18 triệu cử tri đi bỏ phiếu, đạt 99,68% danh sách cử tri.
Điều này không có nghĩa cứ có Quốc hội bầu là mọi tranh luận về mức độ tập trung quyền lực đều chấm dứt. Việc một người đồng thời giữ hai chức vụ lớn hoàn toàn có thể khiến người ta đặt câu hỏi về quyền lực, kiểm soát quyền lực hoặc hiệu quả của cơ chế giám sát. Những câu hỏi ấy là bình thường. Nhưng đặt câu hỏi khác với việc đã có sẵn kết luận. Muốn gọi một người là “độc tài”, phải chỉ ra cơ chế nào đã bị vô hiệu hóa, quyền hạn nào bị sử dụng ngoài luật, quyết định nào hoàn toàn do ý chí cá nhân áp đặt. Không thể chỉ nói “dân không trực tiếp bầu Tổng Bí thư”, rồi coi đó là bằng chứng đủ cho tất cả những phần còn lại.
Câu “nhân dân không có quyền phế truất ông ta” cũng được viết theo cách tương tự. Người dân không có một cuộc bỏ phiếu trực tiếp để bãi nhiệm Tổng Bí thư hoặc Chủ tịch nước. Nhưng điều đó không đồng nghĩa các chức danh này hoàn toàn đứng ngoài mọi cơ chế thay đổi hoặc miễn nhiệm. Với Chủ tịch nước, Hiến pháp trao Quốc hội quyền bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm. Quốc hội đồng thời có quyền giám sát tối cao và xem xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước. Với Tổng Bí thư, việc lựa chọn được thực hiện trong Ban Chấp hành Trung ương theo Điều lệ Đảng. Nói chính xác về cơ chế thì có thể tranh luận nó nên trực tiếp hơn hay cần thêm hình thức giám sát nào. Nhưng nói rằng “không trực tiếp bỏ phiếu” đồng nghĩa “không có bất kỳ kiểm soát nào” là gom hai chuyện khác nhau thành một.
Phần thứ hai của bài viết còn tuyệt đối hơn khi cho rằng “bất kỳ tiếng nói trái chiều nào – dù từ đảng viên hay người dân thường – đều có nguy cơ bị bịt miệng bằng tù tội”. Hai chữ “bất kỳ” làm cho câu này rất dễ bị kiểm tra. Hiến pháp hiện hành ghi rõ công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội và biểu tình; công dân cũng có quyền tham gia quản lý nhà nước, thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước. Đồng thời, Hiến pháp cũng quy định việc thực hiện các quyền này theo pháp luật và các quyền có thể bị hạn chế trong những trường hợp luật định. Như vậy, về mặt pháp lý, không tồn tại quy định kiểu “cứ trái ý lãnh đạo là bị tù”.
Thực tế Việt Nam có những vụ án liên quan đến phát ngôn, hoạt động chính trị và các tội về an ninh quốc gia; cách áp dụng những quy định ấy cũng là chủ đề bị nhiều tổ chức trong và ngoài nước tranh luận. Đó là vấn đề có thể bàn thẳng. Có thể hỏi ranh giới giữa phản biện và hành vi vi phạm pháp luật đang được xác định có hợp lý hay không. Có thể tranh luận một điều luật có quá rộng hay không. Nhưng đó hoàn toàn khác với câu “bất kỳ tiếng nói trái chiều nào cũng bị tù”. Một lời phê bình chính sách, một kiến nghị của cử tri, một bài báo nêu sai phạm và một hành vi bị cơ quan tố tụng cáo buộc theo luật hình sự không thể bị gom thành một loại chỉ vì tất cả đều có yếu tố “không đồng ý”.
Đó cũng là điểm yếu lớn nhất của cách gọi “Tô Lâm độc tài” trong bài viết này. Tác giả không đi vào một quyết định cụ thể để chứng minh ông Tô Lâm đã tự mình vượt qua một cơ quan tập thể nào. Không chỉ ra một quyền hạn cụ thể được sử dụng trái quy trình. Không chứng minh Quốc hội hay Ban Chấp hành Trung ương đã bị vô hiệu hóa ra sao. Thay vào đó, bài viết lấy hai dữ kiện rất rộng: dân không trực tiếp bầu Tổng Bí thư và có người bị xử lý hình sự vì những hoạt động liên quan đến chính trị, rồi nối chúng thành một nhãn “độc tài”.
Muốn phản biện một nhà lãnh đạo thì không thiếu cách. Có thể hỏi một chủ trương có đúng không, một cuộc cải cách có đem lại hiệu quả không, quyền lực có đang tập trung quá mức không, cơ chế giám sát đã đủ mạnh chưa. Những câu hỏi đó cụ thể và có thể kiểm tra bằng dữ kiện. Chính vì vậy, chúng có giá trị hơn nhiều so với việc dùng một nhãn lớn rồi cố kéo mọi hiện tượng vào để chứng minh cho cái nhãn ấy.
Nói ngắn gọn, “người dân không trực tiếp bầu Tổng Bí thư” là một dữ kiện về cách tổ chức của hệ thống chính trị Việt Nam. “Tô Lâm là độc tài” lại là một kết luận về bản chất sử dụng quyền lực. Giữa hai câu đó còn cả một quãng rất dài cần bằng chứng. Nếu bỏ hết quãng giữa rồi coi câu thứ nhất tự động chứng minh câu thứ hai, đó không còn là phân tích cơ chế quyền lực, mà chỉ là gắn nhãn trước rồi tìm lý do sau.
















