Một bài đăng ngày 20/8 của BPSOS – Vietnam Advocacy Project dẫn phát biểu của ông Nguyễn Đình Thắng tại phiên điều trần của Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR), cho rằng Việt Nam “sử dụng và xuất khẩu lao động cưỡng bức”, trong đó nêu tình trạng lao động trong nhà tù, lao động cai nghiện và một số lĩnh vực sản xuất. Từ đó, BPSOS kêu gọi Hoa Kỳ sử dụng các biện pháp thương mại, trong đó có khả năng áp thuế bổ sung, để gây sức ép với Việt Nam.
Đây là một cáo buộc nghiêm trọng. Nhưng mức độ nghiêm trọng của cáo buộc càng cao thì tiêu chuẩn chứng minh càng phải cao. Không thể chỉ đặt ba chữ “trại giam”, “lao động” và “xuất khẩu” cạnh nhau rồi mặc nhiên suy ra “forced labour”.

Nguyễn Đình Thắng tham gia điều trần của USTR từ ngày 7 đến 9/7/2026 trong khuôn khổ cuộc điều tra Section 301 về việc các đối tác thương mại có không áp dụng và thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức hay không. USTR công khai lịch điều trần, transcript và hồ sơ lấy ý kiến. Nhưng được phát biểu tại một phiên điều trần không đồng nghĩa nội dung phát biểu đã trở thành kết luận của Chính phủ Hoa Kỳ. Điều trần chính là quá trình tiếp nhận ý kiến, chứng cứ và lập luận của các bên. Một lời khai tại phiên điều trần phải tiếp tục được thẩm định; không thể lấy địa điểm phát biểu làm giấy chứng nhận cho tính xác thực của cáo buộc.
Vấn đề đầu tiên cần trở lại là chuẩn pháp lý quốc tế.
Việt Nam đã phê chuẩn Công ước số 29 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về lao động cưỡng bức ngày 5/3/2007 và Công ước hiện có hiệu lực đối với Việt Nam. Việt Nam cũng đã phê chuẩn Công ước 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức vào năm 2020.
Điều 2(1) Công ước 29 định nghĩa lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc là công việc hay dịch vụ bị đòi hỏi từ một người dưới sự đe dọa của một hình phạt và người đó không tự nguyện thực hiện. Nhưng ngay khoản tiếp theo, Điều 2(2)(c), Công ước quy định một ngoại lệ quan trọng: công việc phát sinh do hậu quả của bản án của tòa án không thuộc khái niệm lao động cưỡng bức của Công ước nếu công việc được thực hiện dưới sự giám sát, kiểm soát của cơ quan công quyền và người bị kết án không bị thuê hoặc đặt dưới quyền sử dụng của cá nhân, công ty hay hiệp hội tư nhân.
Chi tiết này làm thay đổi hoàn toàn cách đặt vấn đề.
Nếu cứ phạm nhân phải lao động là “lao động cưỡng bức”, Điều 2(2)(c) của Công ước 29 gần như trở nên vô nghĩa. Chính ILO cũng xác nhận rằng việc sử dụng lao động phạm nhân không tự thân là vi phạm tiêu chuẩn quốc tế; vấn đề nằm ở những điều kiện mà hoạt động đó được tổ chức.
Do đó, muốn cáo buộc Việt Nam thực hiện “lao động cưỡng bức trong tù”, không thể dừng ở câu “phạm nhân phải làm việc”. Phải chứng minh hoạt động cụ thể không đáp ứng các điều kiện của Công ước.
Điểm thứ hai cần đặc biệt thận trọng là quan hệ với doanh nghiệp tư nhân.
ILO giải thích rất rõ rằng hai điều kiện tại Điều 2(2)(c) mang tính tích lũy. Việc phạm nhân vẫn chịu sự giám sát của cơ quan nhà nước không tự động giải quyết vấn đề nếu họ bị đưa cho doanh nghiệp tư nhân sử dụng. Đối với công việc phục vụ doanh nghiệp tư nhân, ILO yêu cầu phải xem xét sự đồng ý tự do, có hiểu biết và chính thức của phạm nhân cùng những bảo đảm khiến quan hệ lao động gần với quan hệ lao động tự do, như tiền công, an toàn lao động và an sinh xã hội.
ILO còn đưa ra những chỉ dấu rất cụ thể: người lao động có thể từ chối công việc mà không bị mất đặc quyền hay bị đánh giá bất lợi ảnh hưởng đến khả năng giảm án; có văn bản thể hiện sự đồng ý và điều kiện làm việc; giờ làm, an toàn sức khỏe nghề nghiệp, tiền công và các điều kiện khác phải được xem xét tổng thể.
Đây chính là chỗ cáo buộc trong bài đăng cần phải được kiểm chứng bằng dữ liệu, thay vì khẩu hiệu.
Nếu BPSOS khẳng định khoảng 200.000 tù nhân tại Việt Nam đang là đối tượng của một hệ thống “lao động cưỡng bức”, câu hỏi phải là: 200.000 người đó được thống kê từ cơ sở dữ liệu nào? Bao nhiêu người thực tế tham gia lao động? Cơ sở giam giữ nào? Công việc nào? Doanh nghiệp nào nhận sản phẩm? Hợp đồng ở đâu? Ai điều hành công việc? Trường hợp nào phạm nhân từ chối và bị trừng phạt? Sản phẩm nào đã được chứng minh đi vào chuỗi cung ứng xuất khẩu sang Hoa Kỳ? Nếu chưa trả lời được những câu hỏi ấy thì một con số lớn vẫn chỉ là một cáo buộc lớn, chưa phải một kết luận lớn.
Pháp luật Việt Nam cũng không quy định lao động phạm nhân như một vùng hoạt động tùy tiện. Luật Thi hành án hình sự năm 2019 quy định phạm nhân được tổ chức lao động phù hợp với tuổi và sức khỏe, phục vụ yêu cầu quản lý, giáo dục và hòa nhập cộng đồng; công việc phải nằm dưới sự giám sát, quản lý của cơ sở giam giữ. Thời gian lao động thông thường không quá tám giờ mỗi ngày và năm ngày mỗi tuần; phạm nhân được nghỉ chủ nhật, ngày lễ, Tết; có các quy định về làm thêm, nghỉ bù, sức khỏe và an toàn lao động.
Điều 33 còn yêu cầu giám thị xây dựng kế hoạch lao động hằng năm trên cơ sở số phạm nhân đủ điều kiện, ngành nghề, chi phí, kết quả dự kiến và phương án sử dụng kết quả lao động; kế hoạch phải được cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc Bộ Quốc phòng phê duyệt. Điều 34 quy định kết quả lao động sau khi trừ chi phí được phân bổ cho những mục đích như bổ sung mức ăn, Quỹ hòa nhập cộng đồng và các chế độ liên quan cho phạm nhân.
Vì thế, bài đăng của BPSOS biến một cáo buộc chưa được chứng minh đầy đủ thành một kết luận bao trùm về Việt Nam, rồi từ kết luận ấy thúc đẩy biện pháp thương mại có khả năng tác động đến doanh nghiệp và người lao động không liên quan.
Nếu chỉ cần “phạm nhân phải lao động” để kết luận một quốc gia sử dụng “forced labour”, thì chính Hoa Kỳ cũng sẽ phải đối mặt với câu hỏi tương tự. Cục Nhà tù Liên bang Mỹ (Federal Bureau of Prisons – BOP) quy định rất rõ: phạm nhân đã bị kết án, nếu đủ sức khỏe, được yêu cầu phải làm việc. Những công việc phổ biến gồm phục vụ ăn uống, kho, vệ sinh, sửa chữa, sơn, chăm sóc cảnh quan; mức trả công cho các công việc trong cơ sở giam giữ thường từ 0,12 đến 0,40 USD/giờ.
Mỹ còn có Federal Prison Industries, hoạt động dưới tên UNICOR, một doanh nghiệp thuộc sở hữu hoàn toàn của Chính phủ liên bang, thành lập từ năm 1934. UNICOR hiện vận hành các chương trình sản xuất, dịch vụ và đào tạo nghề trong nhà tù; theo BOP, người tham gia thường được trả khoảng 0,23 đến 1,15 USD/giờ. BOP mô tả mục đích của chương trình là đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và hỗ trợ tái hòa nhập sau khi mãn hạn tù.
Điều này rất đáng chú ý. Nếu lấy tiêu chí “phạm nhân không hoàn toàn tự do lựa chọn việc có lao động hay không”, “mức trả công thấp hơn thị trường” hoặc “sản phẩm lao động có giá trị kinh tế” làm bằng chứng tự động của lao động cưỡng bức thì chính mô hình nhà tù liên bang Mỹ cũng khó tránh khỏi cách gán nhãn đó.
BPSOS không thể đi từ câu “trong nhà tù có lao động” đến kết luận “Việt Nam sử dụng lao động cưỡng bức” mà bỏ qua toàn bộ phép thử của Công ước 29. Càng không thể từ một số lời kể chưa được kiểm chứng độc lập suy rộng thành nhận định về hàng trăm nghìn phạm nhân, rồi tiếp tục bước thêm một bước nữa để yêu cầu Hoa Kỳ áp dụng biện pháp thương mại đối với hàng hóa Việt Nam.

















