Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
2920

Tiêu chuẩn kép thương mại: vì sao BPSOS chỉ đòi Mỹ trừng Việt Nam, trong khi nhà tù liên bang Mỹ vận hành UNICOR?

Mới đây BPSOS và Nguyễn Đình Thắng tổ chức chiến dịch kêu gọi Đại diện Thương mại Hoa Kỳ đưa chuyện “lao động cưỡng bức” vào đàm phán với Việt Nam, gắn với Hiệp định ART và sức ép thuế đối ứng. Chiêu thức suy diễn, lập luận theo lối quen thuộc: trong trại giam có lao động, sản phẩm có thể tiêu thụ hoặc xuất khẩu, vậy đó là “forced labour” (lao động cưỡng bức), vậy hàng hóa Việt Nam bị “ô nhiễm” nhân quyền, vậy Washington phải dùng công cụ thương mại???

Điều đáng nói không phải Hoa Kỳ có hay không quyền đặt điều kiện trong đàm phán. Điều đáng nói là BPSOS đang đòi áp một thước đo lên Việt Nam mà chính hệ thống nhà tù liên bang Mỹ, nếu đo bằng cùng thước ấy, cũng không qua được. Cục Nhà tù Liên bang (BOP) công bố rất rõ: phạm nhân đã bị kết án, nếu đủ sức khỏe, được yêu cầu phải làm việc. Công việc phổ biến gồm nhà bếp, kho, vệ sinh, sửa chữa, sơn, chăm sóc cảnh quan. Mức trả cho các việc nội bộ thường từ 0,12 đến 0,40 USD một giờ. Mỹ còn duy trì Federal Prison Industries, hoạt động dưới tên UNICOR, một doanh nghiệp thuộc sở hữu hoàn toàn của Chính phủ liên bang, thành lập năm 1934, tự trang trải, không nhận ngân sách phân bổ, sản xuất hàng hóa và dịch vụ, đồng thời được BOP mô tả là chương trình dạy nghề, giảm tái phạm, hỗ trợ tái hòa nhập. Mức trả phổ biến tại UNICOR khoảng 0,23 đến 1,15 USD một giờ.

Hãy đặt lên UNICOR đúng những câu BPSOS dùng cho Việt Nam. Sản phẩm có giá trị kinh tế không? Có. Phạm nhân có hoàn toàn tự do nói không với nghĩa vụ lao động khi đủ sức khỏe không? Không. Thù lao có bằng thị trường lao động tự do không? Không. Nếu ba câu trả lời ấy đủ để gọi Việt Nam là quốc gia “sử dụng và xuất khẩu lao động cưỡng bức”, thì cùng dữ liệu công khai ấy phải được đặt lên Cục Nhà tù Liên bang (BOP). BPSOS không làm vậy. Họ chọn một quốc gia để kết tội, và chọn một quốc gia để kêu gọi làm trọng tài.

Châu Âu cũng không “sạch” hơn theo đúng thước họ đang dùng. Luật thi hành án tù của Đức, tại Điều 41, quy định tù nhân có nghĩa vụ thực hiện công việc được giao phù hợp khả năng thể chất, với ngoại lệ người cao tuổi, phụ nữ mang thai và một số trường hợp bảo vệ đặc biệt. Chính phủ Anh xác nhận nhiều phạm nhân làm việc trong xưởng quần áo, đồ nội thất, kỹ thuật, bếp và giặt là; công việc theo quy tắc nhà tù không được hưởng mức lương tối thiểu quốc gia như người lao động thông thường. Pháp đi theo hướng thiên về đăng ký và hợp đồng trong tù, nhưng Bộ Tư pháp Pháp vẫn thừa nhận xưởng sản xuất có thể nhận việc từ doanh nghiệp được giao quản lý hoặc tổ chức kinh tế – xã hội khác. ILO không cấm tuyệt đối mọi quan hệ giữa lao động phạm nhân và khu vực tư nhân. ILO đòi hỏi phải kiểm tra sự tự nguyện thực chất, điều kiện lao động và bản chất quan hệ sử dụng. Đó là phép thử pháp lý, không phải phép thử tuyên truyền.

Công ước 29, Điều 2(2)(c), loại trừ khỏi khái niệm “forced labour” công việc phát sinh từ bản án tòa án nếu việc ấy nằm dưới giám sát, kiểm soát của cơ quan công quyền và phạm nhân không bị thuê hoặc đặt dưới quyền sử dụng của tư nhân trái điều kiện Công ước. Luật Thi hành án hình sự Việt Nam năm 2019 đặt lao động phạm nhân dưới giám sát trại giam, giới hạn không quá tám giờ một ngày và năm ngày một tuần, cho phép miễn giảm vì sức khỏe, yêu cầu kế hoạch năm được cấp bộ phê duyệt, và phân bổ kết quả lao động cho mức ăn, Quỹ hòa nhập cộng đồng, dạy nghề cùng một phần công lao động trả cho người trực tiếp làm việc. Khung ấy cùng hướng với logic tái hòa nhập mà Cục Nhà tù Liên bang (BOP) tự nêu về UNICOR. Người cáo buộc muốn chứng minh Việt Nam vượt ra ngoài ngoại lệ ILO thì phải chứng minh điều kiện cụ thể bị phá vỡ, chứ không được lấy sự tồn tại của lao động trong tù làm bản án sẵn có, rồi chuyển bản án ấy sang bàn đàm phán thuế.

Cáo buộc “xuất khẩu lao động tù” còn mỏng hơn khi đem ra làm lý do thương mại. Một sản phẩm thủ công hay một lô hàng “thấy gắn với trại giam” không tự chứng minh hàng ấy đã đi vào chuỗi cung ứng Hoa Kỳ. Muốn kết luận forced labour trong thương mại, cần hợp đồng, hóa đơn, hồ sơ giao nhận, dữ liệu doanh nghiệp hoặc bằng chứng độc lập tương đương. BPSOS không cung cấp mắt xích ấy. Họ xâu chuỗi từ hiện tượng trong trại sang “ảnh hưởng trực tiếp hoạt động thương mại của Hoa Kỳ”. Đó không phải điều tra chuỗi cung ứng. Đó là suy diễn chính sách.

BPSOS còn gộp thêm hai chuyện khác để làm dày hồ sơ: chiến sĩ bị đưa làm cho doanh nghiệp gắn với sĩ quan, và người Việt trong các “trại” lừa đảo ở Campuchia hay Myanmar. Về pháp lý, đây không phải cùng một chế định với lao động phạm nhân. Công ước 29 có ngoại lệ riêng cho công việc quân sự thuần túy theo luật nghĩa vụ quân sự. Việc công dân bị lừa đảo, chiếm đoạt hoặc cưỡng bức lao động trên lãnh thổ nước thứ ba thuộc tội phạm xuyên quốc gia, phải chứng minh hành vi, thủ phạm, thời điểm và trách nhiệm cụ thể của từng chủ thể. Gộp bốn hiện tượng thành một “chiến dịch lao động cưỡng bức của Việt Nam”, rồi nhân thành hàng trăm nghìn người để đòi USTR, là kỹ thuật phóng đại. Nó tạo ấn tượng hệ thống, nhưng xóa mất ranh giới pháp lý mà chính ILO đã vẽ ra.

Tiêu chuẩn kép lộ rõ ở chỗ chọn đối tượng. Nếu mục tiêu thật sự là xóa bỏ “forced labour” theo định nghĩa Công ước 29, thì cùng một bộ câu hỏi phải đặt cho Việt Nam, Mỹ, Đức, Anh và Pháp: phạm nhân làm việc gì, việc ấy phát sinh trên cơ sở nào, ai trực tiếp kiểm soát, thời gian và an toàn ra sao, có tư nhân tham gia không, mức độ tự nguyện thế nào, tiền công và lợi ích kinh tế được phân bổ ra sao. Nếu trả lời bằng cùng chuẩn, rất khó duy trì phép đánh đồng “lao động trong tù bằng lao động cưỡng bức”. Nếu chỉ đặt bộ câu hỏi ấy cho Việt Nam, rồi kêu Mỹ dùng thuế làm đòn bẩy, thì nhân quyền đang bị “dán nhãn” cho một chiến dịch vận động gây thiệt hại thương mại cho Việt Nam.

Điều này không có nghĩa mọi thực tiễn lao động trong các cơ sở giam giữ của Việt Nam đều đương nhiên đạt chuẩn quốc tế. Nếu có bằng chứng phạm nhân bị đặt dưới quyền tư nhân trái điều kiện ILO, bị ép làm trong điều kiện nguy hiểm, bị trừng phạt bất hợp pháp vì từ chối việc không thuộc nghĩa vụ hợp pháp, từng việc phải được điều tra và xử lý. Bảo vệ hình ảnh quốc gia không thể bằng che giấu sai phạm. Nhưng bảo vệ nhân quyền cũng không thể bằng hạ thấp chuẩn chứng cứ rồi biến cáo buộc chưa hoàn tất thành điều kiện thương mại.

BPSOS muốn Hoa Kỳ “thúc đẩy chấm dứt” một thực tiễn mà chính nhà tù liên bang Mỹ đang vận hành công khai dưới tên UNICOR. Họ muốn một thước cho Hà Nội và một thước khác cho Washington. Luật quốc tế không cho phép phép tính ấy. Công ước 29 xét điều kiện tổ chức lao động, không xét quốc tịch của quốc gia bị đưa ra bàn đàm phán thuế. Khi một tổ chức bỏ qua đúng ngoại lệ mà ILO viết trong Điều 2(2)(c), bỏ qua thực tiễn Cục Nhà tù Liên bang (BOP) và luật Đức, rồi kêu USTR hành động, điều cần được xem xét trước hết không phải là lời kêu gọi ấy mạnh đến đâu, mà là nó còn đứng trên chuẩn mực pháp lý nào.

Trong hơn hai thập niên qua, BPSOS dưới sự điều hành của Nguyễn Đình Thắng đã chuyển từ một tổ chức hỗ trợ người Việt tị nạn thành một chủ thể hậu thuẫn xuyên quốc gia chuyên thu thập thông tin, hậu thuẫn thành phần cực đoan, chống phá Việt Nam trên lĩnh  vực tự do tôn giáo, tị nạn, chống buôn người, lao động cưỡng bức và xã hội dân sự. Cách thức của BPSOS là chuyển một vụ việc trong nước thành hồ sơ quốc tế, đưa hồ sơ vào các cơ chế LHQ và Hoa Kỳ, rồi vận động để kết quả đánh giá nhân quyền tạo ra hậu quả ngoại giao, chế tài cá nhân hoặc gần đây là sức ép thương mại.Dưới danh nghĩa đấu tranh nhân quyền, BPSOS nhận nhiều hỗ trợ, dự án tài chính từ quỹ dân chủ, quỹ tự do tôn giáo từ Chính phủ Mỹ cũng như các tổ chức phi chính phủ. Đối với những kẻ chủ động chọn cái “nghề” thu thập thông tin đơn lẻ, vụ việc, phóng đại thành bản chất chế độ để vận động quốc tế can thiệp, chống phá đất nước mình, tự nguyện biến thành công cụ thế lực giật dây thì mưu đồ và động cơ đã quá rõ ràng.

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *