Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
2450

Nghị quyết 68 và sự đánh tráo khái niệm về kinh tế tư nhân

Điều đáng bàn khi nhìn vào Nghị quyết 68-NQ/TW không phải là kinh tế tư nhân được coi trọng đến đâu, mà là từ sự thay đổi ấy người ta đã suy ra điều gì. Đổi mới cách nhìn về một khu vực kinh tế không đồng nghĩa với thay đổi mô hình phát triển của cả nền kinh tế. Đánh đồng “đề cao kinh tế tư nhân” với “chuyển sang mô hình tư bản chủ nghĩa” chính là đánh tráo giữa một điều chỉnh chính sách và một thay đổi về bản chất.

Nghị quyết 68 xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế, nhưng đồng thời đặt khu vực này trong tổng thể nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Văn kiện cũng khẳng định kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân cùng giữ vai trò nòng cốt trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Vì vậy, việc nhấn mạnh hơn vai trò của kinh tế tư nhân không thể tách khỏi chỉnh thể chính sách mà nghị quyết đặt ra.

Những cách diễn giải cho rằng Nghị quyết 68 đồng nghĩa với “thừa nhận bóc lột”, “quay lại quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa” hay “từ bỏ kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể” đều dựa trên một bước suy luận thiếu cơ sở: lấy sự thay đổi về mức độ coi trọng một khu vực kinh tế để suy ra sự thay đổi về bản chất của toàn bộ mô hình. Một chính sách có thể thay đổi để thích ứng với thực tiễn mà không vì thế làm thay đổi định hướng của mô hình phát triển.

Thực tiễn gần 40 năm đổi mới cho thấy lý do của sự điều chỉnh. Khu vực kinh tế tư nhân đã có hơn 940.000 doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng một nửa GDP, hơn 30% thu ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho khoảng 82% lao động. Khi một khu vực đã trở thành bộ phận quan trọng của đời sống kinh tế, việc xác định đúng vị trí và tháo gỡ rào cản đối với khu vực ấy là yêu cầu của thực tiễn, không phải biểu hiện của một sự “chuyển hướng” mô hình.

Trong nghiên cứu kinh tế chính trị và xã hội học, sự tồn tại của khu vực tư nhân tự nó không quyết định mô hình kinh tế của một quốc gia. Điều quan trọng hơn nằm ở hệ thống thể chế, chế độ sở hữu, luật chơi cạnh tranh, vai trò điều tiết của Nhà nước và cách thức phân bổ thành quả phát triển. Bởi vậy, thấy kinh tế tư nhân phát triển rồi đồng nhất ngay với “chủ nghĩa tư bản” là một bước nhảy khái niệm quá xa.

Ngay cả khi Nghị quyết 68 nhấn mạnh quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng và tiếp cận nguồn lực, điều đó cũng không có nghĩa Nhà nước rút khỏi nền kinh tế. Ngược lại, bảo đảm quyền, thiết lập luật chơi minh bạch và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh chính là những chức năng quan trọng của quản trị kinh tế hiện đại. Nghị quyết đồng thời yêu cầu hoàn thiện thể chế, xóa bỏ định kiến đối với kinh tế tư nhân, khắc phục cơ chế xin – cho và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn.

Cách thức tổ chức thực hiện càng cho thấy đây không phải sự buông lỏng quản lý. Sau khi nghị quyết được ban hành, cơ chế chỉ đạo ở cấp quốc gia cùng chương trình hành động và các chính sách cụ thể được triển khai nhằm đưa định hướng vào thực tiễn. Trọng tâm là cải thiện môi trường kinh doanh, tăng khả năng tiếp cận vốn, đất đai, mặt bằng và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Nghị quyết 68 cũng không chỉ hướng tới việc làm cho khu vực tư nhân “lớn hơn” về quy mô. Mục tiêu còn là nâng năng suất lao động, thúc đẩy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Liên kết giữa kinh tế tư nhân với kinh tế tập thể, hợp tác xã cũng được đặt ra, cho thấy các khu vực kinh tế không được nhìn trong quan hệ loại trừ mà trong sự bổ trợ, liên kết và cùng tạo ra giá trị.

Do đó, điều cần tranh luận về Nghị quyết 68 không phải là kinh tế tư nhân có nên được coi trọng hay không, mà là coi trọng theo cách nào, trong khuôn khổ nào và để đạt mục tiêu phát triển nào. Phản biện chính sách là cần thiết, nhưng phản biện có sức thuyết phục phải phân biệt được giữa điều chỉnh chính sách với thay đổi mô hình, giữa mở rộng không gian kinh doanh với buông bỏ quản lý, giữa phát huy động lực tư nhân với phủ nhận vai trò của các khu vực kinh tế khác.

Đánh giá một nghị quyết không nên bắt đầu từ vài mệnh đề được tách khỏi văn bản, mà phải từ toàn bộ logic chính sách và mục tiêu mà văn kiện đặt ra. Với Nghị quyết 68, logic ấy là phát huy mạnh hơn nguồn lực tư nhân, đồng thời đặt các khu vực kinh tế trong một chỉnh thể, vận hành trong khuôn khổ thể chế, pháp luật và hướng tới những mục tiêu phát triển chung.

Đọc đúng Nghị quyết 68 là nhìn thấy cả chỉnh thể, thay vì chỉ nhìn vào một vài từ khóa. Kinh tế tư nhân được trao thêm không gian không phải để thay thế mô hình, mà để khai thông thêm một nguồn lực cho mô hình phát triển. Đổi mới tư duy không phải đổi tên mô hình; mở rộng động lực không phải từ bỏ định hướng. Và chính ở ranh giới ấy, cần tỉnh táo nhận diện sự đánh tráo khái niệm: biến một bước điều chỉnh chính sách thành một “sự chuyển hướng” mà văn kiện không hề đặt ra.

Nguồn: https://ivanlevanlan.wordpress.com/

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *