Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
171 lượt xem

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI: HOÀN THIỆN ĐỂ GIẢI QUYẾT NHỮNG THÁCH THỨC MỚI

Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng đã xác định:  “Hoạt động tư pháp phải bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đấu tranh có hiệu quả với mọi loại tội phạm”. Có thể khẳng định, qua các Đại hội Đảng, vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân luôn là nội dụng quan trọng được Đảng quan tâm, hoàn thiện để tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân.

Lấy con người là trung tâm

Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (1930), Đảng đã xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Nghị quyết của quốc dân Đại hội Tân Trào (16-17/8/1945) xác định: ban bố những quyền của dân cho dân: nhân quyền, tài quyền, dân quyền, quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ… Có thể cho rằng, đây là nhiệm vụ xuyên suốt, là cơ sở làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám (1945) do Đảng lãnh đạo.

Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên đã phát triển tư tưởng quyền  “tự nhiên” của mỗi cá nhân thành quyền đương nhiên của mọi dân tộc. Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn gắn quyền con người với quyền dân tộc. Các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ là nhằm giành quyền độc lập tự do cho dân tộc gắn với quyền của người dânViệt Nam. Nếu các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trước tiên nhằm vào việc giành quyền dân tộc thì sự nghiệp xây dựng CNXH trên miền Bắc từ năm 1955-1975 và trên cả nước từ sau năm 1975, cốt lõi là nhắm vào việc bảo vệ, bảo đảm quyền công dân, quyền “được sống sung sướng” và luôn gắn với quyền dân tộc.

Cử tri thôn Nà Mỏ, thị trấn Nà Hang bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV

Quyền công dân được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và trong Hiến pháp (1946, 1959, 1980). Nhà nước Việt Nam cũng đã tham gia vào hệ thống pháp luật quốc tế trong hoàn cảnh đất nước đang phải tiến hành kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.  Chỉ 2 năm sau khi đất nước hòa bình, thống nhất (năm 1977), Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp quốc và từ đó đã tích cực tham gia vào hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người. Tuy vậy, trong giai đoạn lịch sử này, giống như các nước XHCN khác, ở nước ta, do nhận thức máy móc, giáo điều về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nên nhiều quy định về quyền công dân trong Hiến pháp chưa phù hợp với thực tế.

Đại hội VI của Đảng (1986) khẳng định quan điểm xuyên suốt là: “Cùng với việc chăm lo đời sống nhân dân, các cơ quan nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm những quyền công dân mà hiến pháp đã quy định”, và “…đảm bảo quyền dân chủ thật sự của nhân dân lao động, đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm quyền làm chủ của nhân dân”.

Đại hội XII của Đảng (2016) cùng với việc đưa nội dung quyền con người vào tất cả các văn kiện Đại hội, đã nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục “Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp 2013…”; đồng thời chủ động, tích cực hội  nhập quốc tế trên lĩnh vực quyền con người. Việt Nam là thành viên tích cực của Ủy ban quyền con người nhiệm kỳ 2001-2003 và Hội đồng nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016; là thành viên của 7/9 công ước cơ bản về quyền con người và ký kết nhiều công ước về lao động và an sinh xã hội; đảm nhiệm tốt vai trò ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ và Chủ tịch ASEAN trong 6 tháng đầu năm 2020 …

Trên cơ sở thực tiễn đổi mới, phù hợp với các Hiến pháp năm 1992 và 2013, các văn kiện của Đảng, Nhà nước, như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (năm 1991), Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, và trực tiếp là các Chỉ thị số 12-CT/TW (ngày 12/7/1992), Chỉ thị số 41/2004/CT-TTg (ngày 2/12/2004), Chỉ thị số 44-CT/TW (ngày 20/7/2010), đã đúc kết những quan điểm cơ bản sau về quyền con người: (i) Quyền con người là giá trị chung của nhân loại. (ii) Quyền con người, về bản chất không có tính giai cấp, nhưng trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm về quyền con người mang tính giai cấp. (iii) Quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia. (iv) Quyền con người là mục tiêu, bản chất, động lực của chế độ XHCN. (v) Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân kết hợp hài hòa với quyền tập thể và không tách rời nghĩa vụ, trách nhiệm công dân. (vi) Quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm bằng Hiến pháp, pháp luật; và trách nhiệm của Nhà nước. (vii) Chủ động, tích cực hợp tác đồng thời sẵn sàng đối thoại và kiên quyết đấu tranh  trong quan hệ quốc tế vì quyền con người;….

Trên cơ sở các quan điểm đó, mới đây, Thông báo Kết luận của Ban Bí thư khóa XII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 về công tác nhân quyền trong tình hình mới (năm 2018) nêu rõ: “Việc thể chế hóa đường lối của Ðảng, hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện, đặc biệt là Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 2013, đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ, thực thi quyền con người và ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm quyền con người”.Đây là một bước tiến mới trong việc hiến định các quyền và tự do cơ bản của công dân cùng với những thiết chế, cơ chế bảo đảm hiệu quả, đồng thời tăng cường việc thụ hưởng các quyền của công dân, nhất là thông qua các cơ chế thực hiện quyền dân chủ trực tiếp.

Công tác bảo đảm quyền con người trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua đã thu được nhiều thành tựu nổi bật. Việt Nam đã phổ cập giáo dục tiểu học và tất cả các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn giáo dục trung học cơ sở từ năm 2011. Trong năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi chỉ còn 2%; trong đó khu vực thành thị là 2,93%, khu vực nông thôn là 1,55%. Việt Nam được quốc tế thừa nhận đã thực hiện tốt các “mục tiêu thiên niên kỷ” của Liên Hợp quốc (giai đoạn 2001-2015). Bất bình đẳng theo thước đo hệ số bất bình đẳng thu nhập (GINI) về tiêu dùng tăng, nhưng ở mức tương đối thấp trong khu vực ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm còn khoảng còn  6,8%. Chỉ số phát triển con người (HDI) trong năm 2017 của nước ta đạt 0,694; và xếp thứ 116/ 189 quốc gia, thuộc nhóm nước trung bình cao.

Những thách thức mới về quyền con người

Việt Nam đang tiếp tục quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Đại hội Đảng lần thứ XIII sắp tới sẽ giải quyết những vấn đề nóng của đất nước trong đó trọng tâm giải quyết những thách thức mới về quyền con người.

Một là, thách thức trong ghi nhận, bảo vệ, bảo đảm những quyền mới phát sinh, như quyền an ninh và an toàn thông tin mạng, quyền kinh doanh và thanh toán trên nền tảng internet, quyền giáo dục và sinh hoạt tôn giáo, văn hóa trực tuyến, quyền riêng tư, nhất là trên mạng xã hội, quyền an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm của trẻ em, quyền của nhóm LGBT, ….

Hai là, thách thức trong  giải quyết một số vấn đề quyền con người như: quyền con người được đề cập trực tiếp ngày càng nhiều hơn, bức xúc hơn trong các vụ khiếu kiện đông người, điểm nóng thay vì chỉ được giới hạn trong quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như hiện nay; bảo vệ, bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp, quyền con người của những nghi can, nghị phạm trongtạm giữ, tạm giam; việc xây dựng cơ quan nhân quyền quốc gia. Bên cạnh đó, sau khi đã ra nhập 7 công ước quốc tế về quyền con người chủ chốt, cần xem xét gia nhập 2 công ước cơ bản còn lại về quyền của những người lao động di trú, kể cả quyền của những người bị cưỡng bức đưa đi mất tích….

        Ba là, thách thức trong thúc đẩy thiết lập quyền bình đẳng giữa con người, công dân và Nhà nước theo thể chế pháp quyền trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng (tháng 4/2020) nhấn mạnh: “Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ…, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Trongthể chế Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, quyền làm chủ của nhân dân không chỉ là làm chủ tập thể, mà làm chủ cả bản thân và cả tập thể; hay nói cách khác là làm chủ về quyền con người và về quyền công dân theo thể chế pháp quyền XHCN. Thể chế pháp quyền trong Nhà nước pháp quyền là tổng hòa thể chế pháp quyền có tính bình đẳng của con người, của công dân và của Nhà nước.

Tuy nhiên hiện nay trong phương hướng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN chủ yếu mới tập trung vào xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp quyền của Nhà nước, mà hầu như chưa chú ý đúng mức đến việc xây dựng thể chế pháp quyền của  con người, của công dân với tính cách là các quan hệ nền tảng và có tính bình đẳng với thể chế pháp quyền của Nhà nước. Do vậy cần phải “thực hiện tốt, có hiệu quả trên thực tế phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” như Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII đã xác định.

Bốn là, giải quyết mối quan hệ  giữa “lấy con người làm trung tâm”, bảo đảm quyền con người và phát triển con người toàn diện. Mục tiêu  phát triển con người toàn diện đương nhiên phải “lấy con người làm trung tâm”. Nhưng nếu không có sự tham gia chủ động, tích cực của người dân với tư cách là người là chủ – làm chủ thì không thể “dựa vào dân” và không thể đạt được mục tiêu đó; nói cách khác, việc “lấy con làm trung tâm” là tất yếu, nhưng nếu con người không được bảo đảm quyền của mình, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân thì không thể “lấy dân làm gốc”, không thể phát huy được sức dân và xây dựng được con người phát triển toàn diện.Vì thế việc bảo đảm quyền con người là khâu kết nối cần thiết, không thể thiếu giữa khâu “lấy con người làm trung tâm” và phát triển con người toàn diện.

Năm là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp quyền tronghoạt động tư pháp nhằm thực hiện công khai, minh bạch nghĩa vụ bảo đảm công lý, quyền con người, quyền công dân như Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng đã xác định:  “Hoạt động tư pháp phải bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đấu tranh có hiệu quả với mọi loại tội phạm và vi phạm”.

Sáu là, vấn đề chủ động, tích cực đối thoại, đấu tranh phòng ngừa , ngăn chặn kịp thời những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhân dân, nhất là trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm thúc đẩy việc thực hiện các chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền con người gắn với nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế. Trong quá trình đó, phải tăng cường thực hiện phương thức trong đối thoại có đấu tranh để nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, từng bước thu hẹp bất đồng và những sự hiểu biết khác nhau giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế trong vấn đề dân chủ, nhân quyền; kiên quyết bảo vệ quan điểm, lập trường, lợi ích quốc gia – dân tộc và đấu tranh ngăn chặn một cách hiệu quả các hoạt động lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ nước ta.■

PGS.TS NGUYỄN THANH TUẤN

 Thông báo Kết luận của Ban Bí thư khóa XII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 về công tác nhân quyền trong tình hình mới (năm 2018) nêu rõ: “Việc thể chế hóa đường lối của Ðảng, hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện, đặc biệt là Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 2013, đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ, thực thi quyền con người và ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm quyền con người”.

 Công tác bảo đảm quyền con người trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua đã thu được nhiều thành tựu nổi bật. Việt Nam đã phổ cập giáo dục tiểu học và tất cả các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn giáo dục trung học cơ sở từ năm 2011. Trong năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi chi còn 2%; trong đó khu vực thành thị là 2,93%, khu vực nông thôn là 1,55%. Việt Nam được quốc tế thừa nhận đã thực hiện tốt các “mục tiêu thiên niên kỷ” của Liên Hợp quốc.

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài viết cùng chủ đề:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *