Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
2242

Quyền bình đẳng trước pháp luật- một trong những quyền con người, quyền công dân cơ bản được Nhà nước Việt Nam ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm

Quyền bình đẳng trước pháp luật là một nguyên tắc hiến định quan trọng, thể hiện bản chất của Nhà nước pháp quyền và là một trong những quyền con người, quyền công dân cơ bản được Nhà nước Việt Nam ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm.

Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật không bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội

Trong Hiến pháp năm 2013, quyền bình đẳng trước pháp luật được quy định rõ tại Điều 16: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.” Quy định này khẳng định mọi cá nhân trong xã hội, không phân biệt địa vị, thành phần xã hội, dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế hay bất kỳ đặc điểm nào khác đều có địa vị pháp lý ngang nhau.

Bên cạnh Điều 16, Hiến pháp năm 2013 còn quy định nhiều nội dung cụ thể bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật:

  • Điều 14 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.” Đồng thời, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng.
  • Điều 15 quy định quyền công dân gắn liền với nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
  • Điều 26 quy định: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt.” Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.
  • Điều 27 quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân.” Quy định này thể hiện sự bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước và xã hội.
  • Điều 28 ghi nhận quyền công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của đất nước và địa phương.
  • Điều 31 bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong lĩnh vực tư pháp, trong đó quy định người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; người bị buộc tội có quyền được xét xử công bằng, công khai và có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
  • Điều 35 quy định công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; người làm công hưởng lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn.
  • Điều 42 ghi nhận quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp, thể hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc.
  • Điều 43, Điều 46 quy định quyền sống trong môi trường trong lành và nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, thể hiện yêu cầu mọi cá nhân đều bình đẳng trong việc hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ.

Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, Hiến pháp năm 2013 tại Điều 5 khẳng định: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Đây là cơ sở hiến định quan trọng bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Quyền này được cụ thể hóa trong các bộ luật và luật, cụ thể: Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật, Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Điều 7 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 về Bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án nhân dân, khoản 1 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015, điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 17 Bộ luật Tố tụng hành chính năm 2015 về bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính.

Thực hiện nguyên tắc hiến định mọi người đều bình đẳng trước pháp luật trong quá trình xét xử, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng hành chính quy định tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước tòa án. Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Quyền được xét xử bởi một tòa án độc lập, công bằng và công khai được quy định tại khoản 3, Điều 31 và Điều 103 Hiến pháp 2013; khoản 1, Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Điều 23 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 13 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 12 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015[1]; Điều 11 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 15 Luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 16 Luật Tố tụng hành chính năm 2015[2]; Điều 16 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 14 Bộ luật Tố tụng hành chính năm 2015[3]; Điều 21 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015[4].

Quy định của Hiến pháp 2013 về quyền được suy đoán vô tội với nhiều điểm mới là cơ sở quan trọng và cũng là một yêu cầu cấp thiết đối với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự nhằm bảo đảm quyền của người bị buộc tội. Khoản 2 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: Người bị buộc tội phải được Toà án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Luật hóa quy định của Hiến pháp, các Bộ luật tố tụng của Việt Nam đều quy định nguyên tắc “Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng”; đồng thời, quy định thời hạn giải quyết đối với từng loại việc cụ thể.

Quyền bình đẳng trước pháp luật còn bao gồm quyền được xét xử theo thủ tục riêng đối với người chưa thành niên; quyền được bồi thường trong trường hợp xét xử oan sai; quyền không bị áp dụng các luật có hiệu lực hồi tố, không bị xét xử hai lần về cùng một tội phạm. Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm. Khoản 4 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự đối với một người là khi hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật.

[1] Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.

[2] Tòa án xét xử công khai.

[3] Bảo đảm sự vô tư trong tố tụng dân sự và hành chính.

[4] Bảo đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.

Như vậy, quyền bình đẳng trước pháp luật trong Hiến pháp Việt Nam không chỉ được ghi nhận như một nguyên tắc chung tại Điều 16 mà còn được cụ thể hóa trong nhiều lĩnh vực khác nhau như bình đẳng giới, quyền tham gia quản lý nhà nước, quyền tiếp cận công lý, quyền lao động, quyền văn hóa, quyền của các dân tộc. Đây là nền tảng pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm mọi người đều được tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo Hiến pháp và pháp luật.

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *