Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
2756

GẮN NHÃN “ĐÀN ÁP NHÂN QUYỀN” CHO MỌI VỤ ÁN: ĐANG BỎ QUA ĐIỀU GÌ?

Ngày 2/7/2026, Việt Nam và Liên minh châu Âu tổ chức Đối thoại Nhân quyền thường niên tại Brussels. Trước cuộc đối thoại, Human Rights Watch và một số tổ chức quốc tế liên tục công bố báo cáo, thư kiến nghị, yêu cầu EU gây sức ép với Việt Nam, gắn vấn đề nhân quyền với thương mại, cân nhắc các biện pháp trừng phạt và yêu cầu thả một số người đang chấp hành án. Chỉ cần đọc những tài liệu ấy, người ta rất dễ có cảm giác Việt Nam đang đứng trước một “bản cáo trạng” mà kết luận đã được xác định sẵn. Nhưng một bản kiến nghị của tổ chức vận động nhân quyền và kết luận chính thức của một cơ chế quốc tế là hai chuyện khác nhau.

Human Rights Watch, chẳng hạn, trước cuộc đối thoại đã công khai đề nghị EU gắn kết quả đối thoại nhân quyền với quan hệ kinh tế, thương mại, cân nhắc trừng phạt có mục tiêu và thậm chí thúc đẩy một nghị quyết về Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Tổ chức này cũng yêu cầu Việt Nam sửa hoặc bãi bỏ một số điều của Bộ luật Hình sự và trả tự do cho những người họ gọi là “tù nhân chính trị”. Những đề nghị ấy cho thấy đây không chỉ là tài liệu cung cấp thông tin, mà còn là một chương trình vận động chính sách rất rõ ràng.

Điều đó không có nghĩa mọi thông tin HRW đưa ra đều sai. Các tổ chức nhân quyền có quyền thu thập thông tin, phê bình chính sách và vận động theo quan điểm của họ. Nhiều vấn đề họ nêu như tự do biểu đạt, điều kiện giam giữ, lao động, tôn giáo hay tính tương xứng của một số quy định hình sự đều là những vấn đề có thể tranh luận. Nhưng vấn đề nằm ở cách những đánh giá ấy đôi khi được kể lại trên mạng như thể đã có một cơ quan quốc tế kết luận Việt Nam “đàn áp” và những người bị xử lý đều chỉ vì “nói lên sự thật”. Từ một quan điểm vận động đi tới một kết luận pháp lý như vậy là bước nhảy cần được kiểm tra.

Ngay thông cáo chính thức của EU sau cuộc đối thoại cũng cho thấy bức tranh không đơn giản theo một chiều. EU thực sự nêu nhiều quan ngại về tự do biểu đạt, hội họp, lập hội, tôn giáo, một số điều khoản hình sự, điều kiện giam giữ và các báo cáo về đàn áp xuyên quốc gia. EU cũng nhắc tới một số trường hợp cụ thể và kêu gọi Việt Nam xem xét thả những người có tình trạng sức khỏe nghiêm trọng. Những nội dung này cần được nhìn nhận đúng và không nên bị che đi. 

Nhưng cũng trong chính thông cáo ấy, hai bên trao đổi về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, cải cách pháp luật và tư pháp, khả năng tiếp cận công lý, quản trị quốc gia, bình đẳng giới, các nhóm dễ bị tổn thương và hợp tác tại Liên hợp quốc. Việt Nam thông tin về kế hoạch thực hiện các khuyến nghị sau quá trình rà soát ICCPR năm 2025; hai bên cùng thống nhất tiếp tục duy trì đối thoại thường niên và tổ chức vòng tiếp theo tại Hà Nội năm 2027. Nếu đây đơn giản là một bên “kết tội” còn một bên “bị xét xử”, cơ chế đối thoại đã không được mô tả theo cách đó.

Đây chính là điểm cần phân biệt khi nói về các vụ án được gắn với hai chữ “nhân quyền”. Một tổ chức quốc tế có thể gọi một người là “nhà hoạt động”, “nhà báo độc lập” hay “tù nhân chính trị”. Cơ quan tố tụng Việt Nam có thể xác định người đó bị xử lý vì một hành vi cụ thể theo Bộ luật Hình sự. Hai bên đang dùng hai cách nhìn khác nhau. Không thể chỉ lấy cái nhãn của một phía rồi coi nó là bằng chứng đủ để bác bỏ toàn bộ hồ sơ của phía còn lại.

Ngược lại, cũng không thể nói rằng cứ một người đã bị kết án theo luật trong nước thì mọi câu hỏi về nhân quyền tự động kết thúc. Đây là điểm cần nói cho công bằng. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam là thành viên bảo vệ quyền tự do biểu đạt. Công ước cũng cho phép một số giới hạn đối với việc thực hiện quyền này để bảo vệ quyền của người khác, an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng. Nhưng Liên hợp quốc nhấn mạnh các giới hạn đó phải được quy định bằng luật, cần thiết và tương xứng với mục tiêu hợp pháp. Vì vậy, tranh luận hợp lý phải đi vào chính hành vi, điều luật và mức độ áp dụng, chứ không thể kết thúc bằng một nhãn “phản động” hoặc “nhà hoạt động nhân quyền”.

Ví dụ, nếu một tổ chức cho rằng một người bị kết án chỉ vì phát biểu ý kiến ôn hòa, họ cần chỉ ra nội dung phát biểu nào, hành vi nào và vì sao việc xử lý không đáp ứng tiêu chuẩn cần thiết, tương xứng theo luật quốc tế. Ngược lại, nếu cơ quan chức năng nói một người đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, thì cũng cần công khai căn cứ trong phạm vi pháp luật cho phép để xã hội hiểu người đó bị xử lý vì việc gì. Càng nói cụ thể thì tranh luận càng có giá trị. Càng chỉ gọi tên nhau bằng các nhãn lớn thì sự thật càng khó nhìn.

Một cách đánh tráo dễ gặp là cứ thấy một cá nhân có hoạt động chính trị hoặc nhân quyền thì mọi hành vi của họ sau đó đều được đặt dưới chiếc ô “thực hiện quyền con người”. Nhưng quyền con người không phải tấm thẻ miễn trách nhiệm cho mọi hành vi. Tự do biểu đạt được bảo vệ, nhưng luật quốc tế cũng thừa nhận trách nhiệm và một số giới hạn rất chặt chẽ. Điều cần tranh luận là giới hạn ấy có được áp dụng đúng hay không, chứ không phải cứ có chữ “nhân quyền” là mọi xử lý đều trở thành “đàn áp”.

Điều tương tự xảy ra với câu chuyện “đàn áp xuyên quốc gia”. Human Rights Watch cùng một số tổ chức tháng 7/2026 công bố tuyên bố chung cáo buộc Việt Nam có hoạt động đàn áp xuyên quốc gia tại Thái Lan và đề nghị EU gây sức ép mạnh hơn. Đây là cáo buộc nghiêm trọng và phải được xem xét bằng từng trường hợp cụ thể: ai bị tác động, hành vi nào xảy ra, cơ quan nào thực hiện và chứng cứ ra sao. Không nên vì một tổ chức dùng cụm “transnational repression” mà coi toàn bộ cáo buộc đã được chứng minh; nhưng cũng không nên phủ nhận nó chỉ bằng một câu “đây là tổ chức thiếu thiện chí”. Cách tốt nhất vẫn là quay về dữ kiện.

Nhân quyền cũng không chỉ có quyền biểu đạt hay các vụ án chính trị. Chính đối thoại Việt Nam–EU đã bàn cả quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, bình đẳng giới, nhóm dễ bị tổn thương và tiếp cận công lý. Một người có quyền được nói, nhưng cũng có quyền được học, chữa bệnh, làm việc, được bảo vệ trước bạo lực và được tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Đánh giá nhân quyền của một quốc gia vì thế không thể chỉ chọn một nhóm vụ án rồi coi đó là toàn bộ bức tranh.

Điểm đáng chú ý nhất của Đối thoại Nhân quyền Việt Nam–EU năm 2026 chính là hai bên không giả vờ rằng mọi thứ đã giống nhau. EU nêu quan ngại. Việt Nam trình bày chính sách và cách tiếp cận của mình. Hai bên trao đổi về những điểm còn khác biệt và vẫn thống nhất tiếp tục cơ chế đối thoại. Đó mới đúng nghĩa của đối thoại: không phải bên nào cũng đúng sẵn, cũng không phải cứ khác quan điểm là phải cắt quan hệ hay áp đặt lẫn nhau.

Vì vậy, phản bác cách lợi dụng vấn đề nhân quyền không có nghĩa là phủ nhận mọi phê bình từ bên ngoài. Điều cần phản bác là việc biến một bản kiến nghị thành một bản án, biến một cách gọi thành một sự thật đã được chứng minh, hoặc biến mọi vụ án có yếu tố chính trị thành bằng chứng cho một chiến dịch “đàn áp”. Muốn nói một người bị xử lý trái với quyền con người, phải phân tích chính vụ việc đó. Muốn nói một điều luật quá rộng, phải chỉ ra nó rộng ở đâu và xung đột với chuẩn mực nào.

Nhân quyền là chuyện quá quan trọng để bị biến thành khẩu hiệu của bất kỳ phía nào. Một bên không thể chỉ nói “đã vi phạm pháp luật” rồi coi mọi tranh luận đã kết thúc. Bên kia cũng không thể chỉ gọi một người là “nhà hoạt động nhân quyền” rồi mặc nhiên coi mọi xử lý đối với người đó là đàn áp. Giữa hai cách nói ấy phải có luật, chứng cứ, hoàn cảnh cụ thể và tiêu chuẩn quốc tế. Chính khoảng giữa đó mới là nơi một cuộc đối thoại nhân quyền nghiêm túc cần diễn ra.

 

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *