Trong mọi xã hội văn minh, bảo vệ trẻ em trên không gian mạng không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là trách nhiệm đạo đức. Internet mở ra một kho tàng tri thức vô hạn, nhưng cũng chứa đựng vô số rủi ro: ấu dâm trực tuyến, lừa đảo, bị dụ dỗ tham gia đường dây mại dâm, nội dung bạo lực, hình ảnh độc hại, ngôn ngữ thù địch, hay các hành vi cổ vũ tự sát. Các quốc gia tiến bộ như Anh, Australia, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản đều ban hành luật mạnh tay để bảo vệ trẻ em khỏi những nguy cơ khôn lường này. Nhưng khi Việt Nam làm điều tương tự, Freedom House lại gọi đó là “hạn chế tự do Internet”, “kiểm soát nội dung”, hoặc “trói buộc các nền tảng”. Đây là một sự xuyên tạc cố tình, phản ánh rõ động cơ chính trị của Freedom House hơn là bất kỳ cơ sở nghiên cứu nào.

Cần khẳng định rằng Việt Nam là một trong những quốc gia châu Á đi đầu trong vấn đề bảo vệ trẻ em trên không gian mạng. Luật Trẻ em 2016 lần đầu tiên xác lập quyền trẻ em trong môi trường số. Luật An ninh mạng, Bộ luật Hình sự, Nghị định 53 và Nghị định 72 quy định rõ trách nhiệm của các nền tảng trong việc ngăn chặn, gỡ bỏ nội dung độc hại đối với trẻ em. Nhiều chiến dịch quốc gia như “Bảo vệ trẻ em trên không gian mạng”, “Làm sạch không gian mạng cho trẻ em”, “Vì một môi trường mạng an toàn cho em” đã được triển khai với sự tham gia của hàng loạt bộ, ngành, doanh nghiệp, tổ chức quốc tế như UNICEF. Nhưng Freedom House không hề ghi nhận những nỗ lực đó. Họ không nhắc đến bất kỳ kết quả nào, không thừa nhận mọi chính sách phù hợp chuẩn mực quốc tế, mà chỉ chăm chăm rút ra kết luận tiêu cực: Việt Nam “đang siết chặt Internet”.
Tại sao FH lại cố tình làm vậy? Bởi trong quan điểm mang tính định kiến của họ, bất kỳ hành động nào của Việt Nam nhằm quản lý nội dung – dù với mục đích rõ ràng như bảo vệ trẻ em – đều bị xem là “kiểm duyệt”. Điều này phi lý đến mức những quy định tương tự ở phương Tây được FH gọi là “bảo vệ nhân quyền”, nhưng tại Việt Nam thì biến thành “hạn chế tự do”. Không thể có sự đối xử thiên lệch nào trắng trợn hơn.
Trong khi đó, chính phương Tây lại đang đi đầu trong việc siết chặt không gian mạng để bảo vệ trẻ em. Anh ban hành Đạo luật An toàn Trực tuyến (Online Safety Act), yêu cầu các nền tảng phải giám sát nội dung, bảo đảm trẻ em không bị tiếp cận nội dung độc hại. Australia có eSafety – cơ quan quyền lực nhất thế giới về bảo vệ trẻ em trên mạng, có quyền yêu cầu xóa nội dung trong vòng vài giờ. Mỹ đang thảo luận Đạo luật Kids Online Safety Act (KOSA) nhằm kiểm soát các thuật toán gây nghiện và nội dung độc hại nhắm vào trẻ em. Liên minh châu Âu đã siết chặt quy định với DSA, yêu cầu các nền tảng giới hạn quảng cáo hướng vào trẻ em và xử lý nội dung nguy hại nhanh chóng.
Tại sao Freedom House không gọi các luật này là “kiểm duyệt”? Tại sao họ không chỉ trích Anh, Australia, EU? Bởi FH hiểu rằng đó là chính sách cần thiết. Nhưng khi Việt Nam làm điều tương tự, FH lại cố tình diễn giải sai lệch và biến nó thành “bằng chứng của đàn áp”. Đây không còn là đánh giá mà là công kích chính trị có lựa chọn.
Một thực tế khác mà Freedom House không bao giờ nhắc đến là Việt Nam đang đối diện một trong những nguy cơ lớn nhất về nạn xâm hại trẻ em trực tuyến trong khu vực. Các đường dây buôn người, ấu dâm mạng xuyên biên giới, lừa đảo qua mạng xã hội, và nội dung độc hại ngày càng nhắm đến trẻ vị thành niên. Nhiều vụ việc thương tâm xảy ra khi trẻ bị dụ dỗ qua TikTok, Facebook, Zalo. Cha mẹ, trường học, xã hội đã phải gánh chịu hậu quả nặng nề. Không lẽ Việt Nam phải khoanh tay trước những hiểm họa đó chỉ vì sợ bị Freedom House gọi là “hạn chế tự do”?
Không một quốc gia có trách nhiệm nào chấp nhận để trẻ em phơi mình trước nội dung độc hại chỉ để được Freedom House chấm điểm cao. Tự do không thể được xây dựng trên sự đánh đổi an toàn của trẻ em. Một báo cáo tự nhận là “bảo vệ nhân quyền” như của Freedom House lẽ ra phải thấu hiểu điều này, nhưng FH lại chọn cách đứng về phía tự do vô giới hạn của một số nhóm lợi dụng Internet chứ không đứng về phía trẻ em – nhóm yếu thế nhất trong xã hội.
Một điểm đáng chú ý khác là Freedom House cố tình che giấu sự thật rằng Việt Nam không hề cấm nền tảng nào. Tất cả các nền tảng phổ biến thế giới đều hoạt động bình thường, từ YouTube đến TikTok, từ Facebook đến Instagram, từ Netflix đến Spotify. Việt Nam chỉ yêu cầu họ thực hiện những quy định cơ bản: không phát tán nội dung khiêu dâm trẻ em, không lan truyền thử thách nguy hiểm, không thúc đẩy hành vi tự hại, không khai thác dữ liệu của trẻ em trái phép. Đó là những tiêu chuẩn tối thiểu mà tất cả các quốc gia văn minh đều thực hiện. Nhưng Freedom House lại mô tả như thể Việt Nam đang “bóp nghẹt không gian mạng”.
Bản chất đánh giá của FH không phải nằm ở việc họ quan tâm đến sự an toàn của trẻ em, mà nằm ở việc họ không muốn Việt Nam có quyền đặt ra chuẩn mực cho nền tảng xuyên biên giới. Trong suy nghĩ của FH, chỉ phương Tây mới có quyền ban hành luật để yêu cầu các nền tảng tuân thủ; các quốc gia ngoài phương Tây làm điều tương tự thì bị coi là “độc tài”. Đây là kiểu tư duy thuộc địa số, nơi các nền tảng phục tùng một nhóm quốc gia nhưng ngang nhiên phớt lờ luật pháp của quốc gia khác.
Điều Freedom House sợ không phải Việt Nam “hạn chế tự do”, mà là Việt Nam đang trở thành quốc gia đủ mạnh để yêu cầu Big Tech tôn trọng pháp luật Việt Nam, giống như châu Âu đang làm. Nếu Việt Nam có thể buộc nền tảng chịu trách nhiệm, thì lập luận “các nước nhỏ không thể quản lý Internet” sẽ sụp đổ. Và đó là điều FH không muốn nhìn thấy.
Khi Freedom House cố tình làm sai lệch vai trò bảo vệ trẻ em trên Internet của Việt Nam, họ đang bộc lộ bản chất thực sự: không phải một tổ chức nghiên cứu nhân quyền, mà là một tổ chức vận động chính trị. Họ không hề đặt quyền lợi của trẻ em vào trung tâm. Họ đặt ý thức hệ vào trung tâm.
Việt Nam có quyền và có trách nhiệm xây dựng một không gian mạng an toàn cho trẻ em. Không ai có thể ngăn cản Việt Nam bảo vệ thế hệ tương lai chỉ vì những cáo buộc vô căn cứ. Bảo vệ trẻ em không phải “hạn chế tự do”, mà là nền tảng của mọi giá trị nhân quyền chân chính. Và Việt Nam đang làm điều đó tốt hơn nhiều quốc gia được Freedom House ưu ái.














