Nguyễn Văn Đài mới đây viết về các dự án tại Hà Nội và Bắc Ninh bằng những từ rất nặng. Ông nói người dân đang bị “đẩy vào cảnh lầm than, bần cùng hóa một cách tàn nhẫn”, nhắc tới “tiếng kêu cứu thấu trời”, “nước mắt của nhân dân”, rồi cáo buộc chính quyền “trục xuất người tàn tật và xúc phạm hương hồn người chết”. Những câu như vậy đánh rất mạnh vào cảm xúc, nhất là với chuyện đất đai, bởi ai phải rời ngôi nhà đã sống nhiều năm cũng có mất mát và lo lắng. Nhưng chính vì chuyện này liên quan trực tiếp đến cuộc sống của hàng chục nghìn gia đình, càng không thể chỉ nhìn một vài trường hợp rồi dùng những chữ như “bần cùng hóa” để nói thay cho toàn bộ người dân bị ảnh hưởng.

Hãy nhìn trước vào dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình. Việc thu hồi đất tại đây là có thật, người dân phải chuyển nơi ở cũng là có thật. Nhưng nói họ đơn giản bị lấy đất rồi đẩy đi lại không đúng với những gì đang được triển khai. Ngày 10/3/2026, Bắc Ninh ban hành riêng Quyết định 19/2026/QĐ-UBND về chính sách đặc thù bồi thường bằng đất đối với người có đất ở bị thu hồi để làm sân bay Gia Bình. Theo chính sách này, hộ đủ điều kiện được bố trí một lô đất tái định cư và trong một số trường hợp còn có thể được xem xét giao thêm đất ở có thu tiền sử dụng đất tùy theo diện tích bị thu hồi. Những nội dung khác về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tiếp tục thực hiện theo Luật Đất đai và các quy định liên quan.
Không chỉ có một quyết định nằm trên giấy. Tính đến cuối tháng 7/2026, dự án tái định cư phục vụ sân bay Gia Bình có tổng mức đầu tư hơn 12.046 tỷ đồng, sử dụng khoảng 335,33 ha đất, gồm bốn khu là Gia Bình, Lương Tài, Đông Cứu 1 và Đông Cứu 2. Ngoài đường sá, điện, nước và hệ thống kỹ thuật, dự án còn bố trí 33 công trình công cộng, trong đó có 14 trường học, 19 nhà văn hóa; cùng 33 công trình di tích và bốn công trình tôn giáo, tín ngưỡng. Ngày 29/7, Bộ Xây dựng dẫn thông tin từ địa phương cho biết tỉnh tiếp tục yêu cầu đẩy nhanh bàn giao đất tái định cư để người dân có thể sớm xây nhà và ổn định cuộc sống. Những con số đó chưa tự động chứng minh mọi hộ dân đều hài lòng, nhưng chúng đủ để bác cách kể rằng người dân chỉ bị lấy đất rồi bỏ mặc.
Điều cần nhìn ở đây là quá trình chuyển chỗ ở luôn có hai mặt. Một gia đình nhận đất tái định cư vẫn có thể chưa đồng ý với giá bồi thường. Một người nông dân có đất bị thu hồi vẫn có thể lo mất sinh kế. Người cao tuổi có thể không muốn rời nơi đã sống cả đời. Có gia đình cần được hỗ trợ nhiều hơn những gì phương án ban đầu đưa ra. Những phản ánh như vậy cần được nghe và giải quyết từng trường hợp. Nhưng từ việc có người chưa đồng thuận đến kết luận “hàng ngàn người bị bần cùng hóa” là một khoảng cách rất lớn. Muốn nói đến “bần cùng hóa”, phải chứng minh rằng thu nhập, nơi ở và điều kiện sống của số đông người bị ảnh hưởng thực sự bị đẩy xuống mức như vậy, chứ không thể chỉ lấy hình ảnh một cuộc cưỡng chế, một lá đơn hay một gia đình đang khiếu nại để đại diện cho tất cả.
Câu chuyện tại Hà Nội cũng cho thấy vấn đề tương tự. Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng là dự án rất lớn, dự kiến tác động đến khoảng 70.474 hộ với hơn 247.000 người. Chính vì số người bị ảnh hưởng lớn nên tái định cư trở thành một phần chính của dự án, không phải chuyện phụ. Thông tin UBND Hà Nội công bố tháng 5/2026 cho biết thành phố dự kiến chuẩn bị khoảng 79.000–85.000 suất tái định cư bằng đất và căn hộ chung cư, với mục tiêu cơ bản đáp ứng nhu cầu của các hộ bị ảnh hưởng. Thành phố cũng nêu chủ trương ưu tiên các dự án tái định cư, tái thiết trước khi triển khai đồng bộ những hạng mục khác. Nếu chỉ nói “người dân bị đẩy ra đường” mà bỏ toàn bộ phần này, bức tranh rõ ràng đã bị cắt mất một nửa.
Pháp luật về đất đai cũng không đặt nguyên tắc rằng thu hồi đất xong là hết trách nhiệm. Luật Đất đai năm 2024 quy định các điều kiện đối với khu tái định cư về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, nhằm cụ thể hóa yêu cầu người có đất bị thu hồi phải có chỗ ở và điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Quy định là một chuyện, thực hiện được đến đâu lại là chuyện phải tiếp tục giám sát. Nếu khu tái định cư chậm, thiếu điện nước, giá bồi thường chưa hợp lý hay người dân chưa được giải quyết quyền lợi đúng quy định thì hoàn toàn có thể phản ánh. Nhưng chính việc pháp luật đặt ra nghĩa vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho thấy không thể mô tả toàn bộ quá trình thu hồi đất bằng hai chữ “cướp đất” hay “trục xuất”.
Đây cũng là điểm dễ thấy trong cách Nguyễn Văn Đài sử dụng những câu như “nước mắt của nhân dân” hay “tiếng kêu cứu thấu trời”. Những câu đó có thể làm người đọc xúc động, nhưng không cho biết một hộ được bồi thường bao nhiêu, được bố trí đất ở đâu, phương án tái định cư thế nào, còn vướng mắc gì và đã khiếu nại đến cơ quan nào. Một câu chuyện đất đai muốn được hiểu đúng phải đi vào những chi tiết ấy. Nếu một gia đình bị tính sai diện tích thì hãy chỉ ra diện tích sai. Nếu giá bồi thường không đúng thì đối chiếu bảng giá và phương án cụ thể. Nếu khu tái định cư chưa đủ điều kiện bàn giao thì chỉ ra hạng mục nào chưa xong. Làm như vậy mới giúp bảo vệ quyền lợi của người dân. Còn gom tất cả thành một bức tranh “chính quyền đẩy dân vào đường cùng” thì nghe mạnh nhưng lại làm mất chính những vấn đề cụ thể cần giải quyết.
Càng thiếu cơ sở hơn khi Nguyễn Văn Đài kéo mọi vấn đề phát sinh ở từng dự án lên thành trách nhiệm trực tiếp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Hiện nay ông Tô Lâm đồng thời giữ hai chức Tổng Bí thư và Chủ tịch nước, sau khi được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2026–2031 ngày 7/4/2026. Nhưng một phương án bồi thường tại một xã, một quyết định giao đất tái định cư hay một vụ khiếu nại cụ thể vẫn được xử lý qua cơ quan và chính quyền có thẩm quyền theo từng cấp. Không thể cứ có một hộ chưa đồng ý với phương án giải phóng mặt bằng rồi lập tức biến nó thành bằng chứng rằng người đứng đầu đất nước đang cố ý làm người dân “lầm than”. Đó là cách lấy một vấn đề quản lý cụ thể rồi nâng thành một kết luận chính trị rất lớn mà phần chứng minh ở giữa lại bị bỏ qua.

















