Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
8480

Bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục của trẻ em

Giáo dục là một trong những quyền cơ bản và quan trọng nhất của trẻ em, bởi đây không chỉ là con đường giúp trẻ tiếp cận tri thức mà còn là nền tảng để phát triển toàn diện về nhân cách, đạo đức, kỹ năng sống và cơ hội vươn lên trong tương lai. Quyền được giáo dục của trẻ em là một quyền con người cơ bản, được thừa nhận rộng rãi trong pháp luật quốc tế cũng như hệ thống pháp luật Việt Nam. Việc bảo đảm quyền này không chỉ thể hiện trách nhiệm của Nhà nước mà còn là thước đo của sự tiến bộ, công bằng và phát triển bền vững của một quốc gia.

Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989, mà Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn, đã khẳng định mọi trẻ em đều có quyền được học tập và Nhà nước phải bảo đảm giáo dục tiểu học bắt buộc, miễn phí cho tất cả trẻ em. Trẻ em phải được tạo điều kiện tiếp cận giáo dục trung học, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học trên cơ sở bình đẳng về cơ hội. Giáo dục không chỉ nhằm truyền đạt kiến thức mà còn phải hướng tới phát triển đầy đủ nhân cách, tài năng, khả năng trí tuệ và thể chất của trẻ; bồi dưỡng lòng tôn trọng quyền con người, tình yêu quê hương, đất nước và tinh thần trách nhiệm với cộng đồng.

Tiết dạy khoa học công nghệ cho trẻ em vùng cao

Hiến pháp 2013 chú trọng những qui định về giáo dục và đào tạo, khẳng định: “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” (Điều 39); “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục chuyên nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý. Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục vùng miền núi, hải đảo, vùng đồng bào DTTS và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa và học nghề” (Điều 61). Việc Hiến pháp 2013 tiếp tục nhấn mạnh học tập vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của công dân đã khẳng định vai trò to lớn của giáo dục trong đời sống xã hội, trong đó mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế có quyền được đi học, đều bình đẳng về cơ hội học tập. Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành.

Chủ trương coi trọng, ưu tiên cho phát triển giáo dục đã được thể chế trong các văn bản pháp luật như Luật Trẻ em, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục, Luật Giáo dục Đại học. Theo đó, Nhà nước ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, bảo đảm ngân sách nhà nước chi cho giáo dục, đào tạo đạt tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước. Không chỉ giáo dục chính qui, Nhà nước còn tạo điều kiện để người dân được học liên tục mọi nơi, học suốt đời theo nhiều hình thức khác nhau. Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Phát triển đào tạo từ xa giai đoạn 2015-2020”, Đề án “Xóa mù chữ đến năm 2020”. Chỉ thị 29-CT/TW của Bộ Chính trị, ngày 5/1/2024, yêu cầu chú trọng “xóa mù chữ chức năng”, duy trì bền vững kết quả xóa mù chữ trong bối cảnh chuyển đổi số xác định rõ yêu cầu chuyển từ “xóa mù chữ cơ bản” sang “xóa mù chữ chức năng”, coi đây là nền tảng để thực hiện phân luồng, giảm nghèo bền vững, củng cố an ninh biên giới và xây dựng xã hội học tập đến năm 2030.

Tính đến hết năm 2025, tỉ lệ biết chữ ở nhóm tuổi 15-35 đạt 99,39% (mức độ 1 – tương đương đã học đến lớp 3 tiểu học) và 98,97% (mức độ 2 – tương đương hoàn thành chương trình tiểu học); nhóm tuổi 15-60 đạt lần lượt 99,10% và 97,72%. Cả 34/34 tỉnh, thành phố đã được công nhận đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 1; 26/34 đạt mức độ 2 (76,5%). Giai đoạn 2020-2023, cả nước huy động được 79.280 người tham gia lớp xóa mù chữ, trong đó gần 75% là đồng bào DTTS thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia 1719.Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội”. Kế thừa Nghị quyết 29-NQ/TW, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, văn kiện mang tính đột phá mạnh mẽ nhất từ trước đến nay trong lĩnh vực này – cuộc cách mạng mới trong giáo dục – đào tạo, là yếu tố quyết định đến tương lai dân tộc – gắn trực tiếp với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Nghị quyết mở rộng không gian phát triển giáo dục ra ngoài phạm vi nhà trường, kết nối chặt chẽ với khoa học, công nghệ, kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số. Giáo dục được xem là vấn đề “sống còn” của quốc gia, chuyển từ tư duy “cải tiến cục bộ” sang tư duy “kiến tạo, dẫn dắt phát triển” đất nước bằng tri thức và nhân lực chất lượng cao.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 đã thể chế hóa Nghị quyết số 71-NQ/TW đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Quyết định số 131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 – 2025, định hướng đến năm 2030” đưa dạy và học trên môi trường số trở thành hoạt động giáo dục thiết yếu, hàng ngày đối với mỗi nhà giáo, mỗi người học.

Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho các nhóm yếu thế, trong đó tập trung hỗ trợ học sinh vùng DTTS, vùng sâu, vùng xa, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Tất cả các tỉnh, thành phố đều đạt phổ cập trung học cơ sở và đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.

Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; phát triển các chính sách giáo dục nghề nghiệp theo hướng hội nhập và bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ 4; cơ hội tiếp cận giáo dục bình đẳng, công bằng cho các đối tượng thiệt thòi, yếu thế ngày càng được mở rộng và hoàn thiện. 100% trường có chương trình giáo dục cơ bản về giới tính, phòng chống bạo lực, xâm hại, cung cấp kiến thức về HIV.

Từ năm học 2025-2026, Việt Nam thực hiện miễn toàn bộ học phí từ mầm non đến hết THPT công lập trên phạm vi cả nước bắt đầu từ tháng 9/2025. Học sinh tại các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục cũng được hỗ trợ học phí theo mức do Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố quyết định, không vượt mức thu học phí của cơ sở dân lập, tư thục. Việt Nam hiện là quốc gia duy nhất trong ASEAN miễn học phí từ mầm non đến hết phổ thông công lập. Một số địa phương còn hỗ trợ bữa ăn trưa miễn phí cho học sinh học 2 buổi/ngày, đặc biệt ưu tiên vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và địa bàn khó khăn.

Công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi trên cả nước có nhiều chuyển biến tích cực. Nghị quyết số 218/2025/QH15 ngày 26/6/2025 của Quốc hội về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi, mục tiêu đến năm 2030 là 100% tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi, Nhà nước bảo đảm nguồn lực và huy động xã hội hoá theo qui định của pháp luật. Số trẻ em độ tuổi đi học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở đều tăng qua các năm, góp phần quan trọng trong việc tiếp cận giáo dục, bảo đảm quyền được giáo dục và học tập của trẻ em. Năm 2025, toàn ngành có khoảng 26 triệu học sinh, sinh viên các cấp học, cùng khoảng 1,6 triệu giáo viên Có 53.979 cơ sở giáo dục; 1.659.589 giảng viên, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, người lao động.

Về giáo dục tiểu học, tổng số học sinh là 9.232.716 (tăng 5,4% so với năm học trước) với 287.415 lớp (tăng 4.447 lớp so với năm học trước) và 404.799 giáo viên tiểu học (tăng 3.753 giáo viên so với năm học trước). Về giáo dục trung học cơ sở, tổng số học sinh là 6.078.981 (tăng 1,9% so với năm học trước), trong đó tỉ lệ trường đạt chuẩn quốc gia là 59%.

Giáo dục DTTS&MN được quan tâm, đầu tư, xây dựng bảo đảm đủ điều kiện để từng bước nâng cao chất lượng dạy và học; chất lượng giáo dục đại trà có nhiều chuyển biến tích cực; chất lượng mũi nhọn ngày càng nâng lên. Các trường vùng DTTS đã có nhiều giải pháp mang tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho con em người DTTS. Hiện nay, tỉ lệ phòng học kiên cố ở các cấp học đạt 86,98%; tỉ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia các cấp học đạt 71,76%. Năm 2024, tỉ lệ đi học chung cấp tiểu học của người DTTS là 103,2%, cấp THCS là 91,2% và THPT là 53,8%. Mức độ tiếp cận với giáo dục phổ thông của người DTTS ngày càng được cải thiện và thể hiện ở cả ba cấp học.  Tỉ lệ trẻ em đi học đúng tuổi cấp tiểu học của 53 DTTS đạt 96,9%. Đến năm 2024, tỉ lệ trẻ em DTTS nhập học đúng tuổi bậc tiểu học đạt trên 94%. Tỉ lệ người DTTS từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông ngày càng cao, đạt 80,9%, tăng 1,7 điểm % so với năm 2015. Tín dụng chính sách xã hội góp phần hỗ trợ trên 62 nghìn lượt học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập, giúp mua gần 87 nghìn máy vi tính, thiết bị học trực tuyến.

Tỉ lệ trẻ em 5 tuổi đi học mẫu giáo và tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi được phát triển phù hợp về sức khỏe, học tập và tâm lý xã hội đạt lần lượt là 99,8% và 92%. Việt Nam đã hoàn thành phổ cập tiểu học vượt trước 15 năm so với thời hạn của Mục tiêu Thiên niên kỷ (năm 2000). Việt Nam đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo các điều ước quốc tế và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao về những kết quả đạt được trong việc bảo vệ quyền được giáo dục được UNESCO xếp thứ 64/127 nước về phát triển giáo dục.

Luật Nhà giáo 2025 có hiệu lực từ ngày 01/01/2025 qui định về nâng cao vị thể nhà giáo với các chính sách về tiền lương, đãi ngộ, đào tạo và bảo vệ danh dự, uy tín của nhà giáo; đồng thời thu hút người có năng lực tham gia vào ngành sư phạm.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, việc bảo đảm quyền được giáo dục của trẻ em vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức. Ở một số vùng sâu, vùng xa, tình trạng bỏ học giữa chừng, tảo hôn, lao động sớm vẫn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền học tập của trẻ em. Nhiều gia đình nghèo vẫn chưa đủ điều kiện để cho con theo học lâu dài. Trẻ em khuyết tật, trẻ em lang thang, trẻ em di cư, trẻ em trong các khu công nghiệp hoặc trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh vẫn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận giáo dục bình đẳng. Chất lượng giáo dục giữa các vùng miền còn chênh lệch; áp lực học tập, bạo lực học đường và những tác động tiêu cực từ môi trường mạng cũng đang đặt ra những vấn đề mới cần giải quyết.

Một thực tế đáng quan tâm là trong thời đại số, quyền được giáo dục không chỉ dừng lại ở việc có trường lớp mà còn bao gồm quyền tiếp cận tri thức số, kỹ năng số và môi trường học tập an toàn trên không gian mạng. Nếu không được trang bị đầy đủ, trẻ em dễ trở thành đối tượng bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi số quốc gia. Vì vậy, việc phát triển giáo dục số, học liệu mở, hạ tầng internet và kỹ năng sử dụng công nghệ cho trẻ em là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Để bảo đảm tốt hơn quyền được giáo dục của trẻ em, trước hết cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật theo hướng lấy trẻ em làm trung tâm, bảo đảm mọi trẻ em đều được tiếp cận giáo dục công bằng, không phân biệt hoàn cảnh sống, giới tính, dân tộc hay điều kiện kinh tế. Nhà nước cần tăng đầu tư cho giáo dục ở vùng khó khăn, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cải thiện cơ sở vật chất trường học và mở rộng các chương trình hỗ trợ học sinh yếu thế.

Gia đình cần nhận thức đầy đủ vai trò của giáo dục, không để trẻ em bỏ học vì khó khăn trước mắt. Nhà trường không chỉ dạy chữ mà còn phải là môi trường an toàn, thân thiện, giúp trẻ phát triển nhân cách, kỹ năng sống và năng lực sáng tạo. Xã hội cần chung tay bảo vệ trẻ em khỏi lao động sớm, bạo lực học đường, xâm hại và các nguy cơ khiến các em mất cơ hội đến trường.

Bảo đảm quyền được giáo dục của trẻ em chính là đầu tư cho tương lai của quốc gia. Một đất nước muốn phát triển bền vững phải bắt đầu từ việc chăm lo cho thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của dân tộc. Khi mọi trẻ em đều được học tập, được phát triển tài năng và được sống trong một môi trường giáo dục công bằng, nhân văn, đó không chỉ là sự thực hiện quyền con người mà còn là nền tảng để xây dựng một xã hội tiến bộ, hạnh phúc và thịnh vượng.

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *