Việt Nam là một trong số ít nước trên thế giới có riêng một luật về phòng, chống HIV/AIDS
HIV/AIDS không chỉ là vấn đề y tế mà còn là vấn đề xã hội phức tạp, liên quan đến kỳ thị, phân biệt đối xử, thiếu hiểu biết và hạn chế trong tiếp cận công bằng tới các dịch vụ y tế và hỗ trợ. Nhằm đảm bảo cho người bị nhiễm HIV/AIDS có cuộc sống bình thường, bình đẳng với tất cả mọi người trong xã hội và ngăn chặn sự lây lan của virus HIV/AIDS trong cộng đồng, những năm qua, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách và triển khai nhiều biện pháp can thiệp nhằm nỗ lực chung tay cùng cộng đồng quốc tế giảm thiểu việc lây nhiễm HIV/AIDS.
Đầu tiên phải kể đến Luật Phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam (chủ yếu là Luật số 71/2020/QH14, sửa đổi Luật 2006) quy định về quyền và nghĩa vụ của người nhiễm HIV, cấm kỳ thị, phân biệt đối xử, đảm bảo tiếp cận điều trị, xét nghiệm (có tư vấn), tạo điều kiện cho người nhiễm tham gia xã hội, đồng thời cập nhật chính sách như bỏ điều khoản tạm đình chỉ điều tra với người AIDS giai đoạn cuối để đảm bảo quyền điều trị. Luật nhấn mạnh việc phòng chống HIV/AIDS gắn liền với các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) và đặt mục tiêu chấm dứt dịch AIDS vào năm 2030.
Tại điều 6 của Luật phòng, chống HIV/AIDS đã quy định chính sách của Nhà nước về phòng, chống HIV/AIDS gồm: Khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hợp tác, giúp đỡ dưới mọi hình thức trong phòng, chống HIV/AIDS; phát triển các mô hình tự chăm sóc của người nhiễm HIV. Hỗ trợ sản xuất thuốc kháng HIV trong nước; thực hiện các biện pháp giảm giá thuốc kháng HIV. Khuyến khích doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị vũ trang nhân dân tổ chức đào tạo và tuyển dụng người nhiễm HIV và thành viên gia đình họ vào làm việc hoặc đầu tư nguồn lực vào phòng, chống HIV/AIDS.

Đồng thời cũng tại điều 6 đã nêu: Nhà nước huy động sự tham gia của toàn xã hội, sự đóng góp về tài chính, kỹ thuật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong phòng, chống HIV/AIDS. Huy động và điều phối các nguồn lực cho phòng, chống HIV/AIDS phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và tình hình dịch HIV/AIDS của đất nước trong từng giai đoạn. Hỗ trợ nghiên cứu khoa học, trao đổi và đào tạo chuyên gia, chuyển giao kỹ thuật trong phòng, chống HIV/AIDS. Hỗ trợ phòng, chống lây nhiễm HIV từ mẹ sang con, nuôi dưỡng trẻ em dưới 6 tháng tuổi sinh ra từ người mẹ nhiễm HIV bằng sữa thay thế và bệnh nhân AIDS có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Điều trị, chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.
Tại điều 41 của Luật phòng, chống HIV/AIDS quy định: Người nhiễm HIV được chăm sóc tại gia đình, cơ sở y tế của Nhà nước. Trẻ em nhiễm HIV bị bỏ rơi, người nhiễm HIV không nơi nương tựa, không còn khả năng lao động được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước. Tổ chức tôn giáo, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác được thành lập cơ sở chăm sóc người nhiễm HIV. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm huy động cộng đồng tham gia tổ chức các hình thức chăm sóc người nhiễm HIV dựa vào cộng đồng. Chính phủ quy định chế độ chăm sóc người nhiễm HIV quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. Ngoài ra, tại điều 40 của Luật này đã nêu rõ người đang tham gia bảo hiểm y tế bị nhiễm HIV được Quỹ bảo hiểm y tế chi trả các chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

Theo Quyết định số 29/2014/QĐ-TTg ngày 26/4/2014 về tín dụng đối với hộ gia đình và người nhiễm HIV, người sau cai nghiện ma túy, người điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người bán dâm hoàn lương, theo đó: Người nhiễm HIV, hộ gia đình có thành viên bị nhiễm HIV/AIDS được vay vốn để mua sắm các loại vật tư, vật nuôi, thức ăn gia súc gia cầm, công cụ lao động, hàng hóa, phương tiện phục vụ kinh doanh, buôn bán; đầu tư làm các nghề thủ công trong hộ gia đình như mua nguyên vật liệu sản xuất, công cụ lao động, máy móc, thiết bị; góp vốn thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh với cá nhân, tổ chức khác.
Mức cho vay căn cứ vào nhu cầu vay và khả năng trả nợ của từng cá nhân, hộ gia đình và không phải thế chấp nhưng không vượt quá mức cho vay tối đa 20 triệu đồng/cá nhân; tối đa 30 triệu đồng/hộ. Người vay có thể vay vốn nhiều lần nhưng tổng dư nợ không vượt quá mức dư nợ cho vay tối đa theo quy định này. Trường hợp cá nhân, hộ gia đình quy định tại Điều 2 Quyết định này, nếu đồng thời là đối tượng được vay vốn từ các chương trình ưu đãi khác tại Ngân hàng Chính sách xã hội thì chỉ được xem xét cho vay một trong các chương trình ưu đãi đó. Lãi suất cho vay bằng lãi suất cho vay hộ nghèo theo từng thời kỳ do Chính phủ quy định; lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất cho vay. Thời hạn cho vay tối đa là 60 tháng; thời hạn cụ thể do Ngân hàng Chính sách xã hội và cá nhân, hộ gia đình vay vốn thỏa thuận phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.

















