Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
1986

TỪ “MỜI LÀM VIỆC” ĐẾN “TÔ LÂM SUỴT AN NINH”: NGUYỄN VĂN ĐÀI ĐÃ NỐI THÊM ĐIỀU GÌ?

Nguyễn Văn Đài mới đây viết trên mạng xã hội: “Tô Lâm hèn và bẩn!”, rồi khẳng định ông Tô Lâm “suỵt an ninh các tỉnh đe dọa những người dân có tương tác trên MXH với Ls Nguyễn Văn Đài và nhà báo Lê Trung Khoa”. Sau đó, ông Đài tiếp tục tuyên bố: “Chúng tôi làm Cách mạng đấu tranh chống giặc nội xâm CS vì tương lai VN”. Nếu chỉ đọc đoạn này, người ta rất dễ hiểu rằng đã có một câu chuyện rõ ràng: ông Tô Lâm trực tiếp chỉ đạo, công an các địa phương làm theo, còn những người bị mời lên làm việc chỉ vì họ từng tương tác với Nguyễn Văn Đài hoặc Lê Trung Khoa. Nhưng đây chính là chỗ cần tách từng việc ra. Có người bị công an mời làm việc là chuyện đã xảy ra. Còn từ đó kết luận rằng ông Tô Lâm trực tiếp “suỵt an ninh” đi “đe dọa” họ lại là một bước khác, và bước này không tự nhiên trở thành sự thật chỉ vì Nguyễn Văn Đài nói bằng giọng chắc chắn.

Trước hết, không cần né phần có thật. Trong những tháng gần đây, công an tại nhiều địa phương đã mời người dân lên làm việc sau khi phát hiện họ bình luận, chia sẻ hoặc tương tác với các nội dung trên hệ thống trang của Lê Trung Khoa và một số tài khoản khác. Tại Phú Thọ, báo chí phản ánh trường hợp một người đàn ông được mời làm việc sau khi bình luận “chuẩn luôn” dưới một video trên trang liên quan đến Lê Trung Khoa. Người này sau đó cho biết mình không có mục đích tuyên truyền hay chống đối và không bị xử lý hình sự. Tại Vĩnh Long cũng có hai người được mời làm việc vì tương tác với các trang thuộc hệ thống “Thời báo”. Ở Lai Châu, công an địa phương công bố việc mời 10 trường hợp lên làm việc vì các hành vi theo dõi, bình luận, chia sẻ hoặc bày tỏ cảm xúc với những nội dung mà cơ quan chức năng xác định là sai lệch. Những trường hợp đó cho thấy việc mời người dùng mạng lên làm việc không phải điều Nguyễn Văn Đài tự nghĩ ra.

Nhưng có một việc đã xảy ra không có nghĩa mọi cách giải thích về việc đó đều đúng. Từ chuyện công an địa phương mời một số người lên làm việc, Nguyễn Văn Đài đi thêm một bước rất xa khi khẳng định ông Tô Lâm đã “suỵt an ninh các tỉnh”. Hai việc này không phải một. Muốn nói người đứng đầu trực tiếp ra lệnh cho các địa phương xử lý những người tương tác với Nguyễn Văn Đài và Lê Trung Khoa thì phải có căn cứ cho chính phần đó. Nhưng trong phát ngôn được đưa ra, ông Đài không chỉ ra một văn bản, một chỉ đạo, một phát biểu hay một tài liệu nào thể hiện mệnh lệnh như vậy. Ông lấy kết quả đang nhìn thấy ở nhiều địa phương rồi tự gắn cho nó một người chỉ đạo cụ thể. Đây là chỗ quan trọng nhất của cả câu chuyện: một sự việc có thật đã được dùng làm nền để đỡ cho một kết luận khác mà phần chứng minh lại chưa xuất hiện.

Chữ “đe dọa” cũng được Nguyễn Văn Đài đưa vào theo cách tương tự. Thông tin công khai cho thấy có trường hợp người dân được mời lên làm việc, giải thích về nội dung đã tương tác, sau đó gỡ bình luận và cam kết không tái phạm. Có trường hợp bị xử phạt vì nội dung cụ thể mà họ đăng hoặc chia sẻ được cơ quan chức năng xác định là sai sự thật. Nhưng “mời làm việc”, “nhắc nhở”, “xử phạt” và “đe dọa” là những khái niệm khác nhau. Có thể tranh luận việc một người chỉ bình luận vài chữ mà cũng bị mời lên làm việc có cần thiết hay không. Có thể đặt câu hỏi ranh giới xử lý nên nằm ở đâu. Nhưng nếu gọi tất cả các trường hợp đó là “đe dọa” thì phải chỉ ra hành vi đe dọa cụ thể đã diễn ra như thế nào. Nếu không làm rõ phần này, người đọc rất dễ bị dẫn từ một sự việc có thật sang một cách mô tả nặng hơn mà không nhận ra mình vừa đi qua một bước suy diễn.

Điều đáng chú ý là sau khi đưa ra hai kết luận “suỵt an ninh” và “đe dọa người dân”, Nguyễn Văn Đài lập tức chuyển sang những chữ rất mạnh: “hèn và bẩn”, “Cách mạng”, “giặc nội xâm”. Nhưng những chữ ấy không giải quyết được khoảng trống vừa nói ở trên. Nói “chúng tôi làm Cách mạng” chỉ cho biết Nguyễn Văn Đài tự nhìn nhận hoạt động của mình như thế nào. Gọi một bên là “giặc nội xâm” cũng chỉ thể hiện thái độ chính trị của người nói. Cả hai đều không chứng minh được ai đã ra một mệnh lệnh cụ thể cho công an các địa phương. Đây là cách tranh luận rất dễ gặp trên mạng: phần dữ kiện còn thiếu thì được bù bằng những từ có sức kích thích cảm xúc rất mạnh. Người đọc bị kéo sang phẫn nộ hoặc đồng tình trước khi kịp hỏi xem mắt xích quan trọng nhất đã được chứng minh chưa.

Cũng cần tránh một cực đoan khác là cho rằng cứ tương tác với một trang bị cơ quan chức năng đánh giá là có nội dung vi phạm thì người dùng mặc nhiên phạm pháp. Quy định hiện hành về mạng xã hội tập trung vào hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm tổ chức, cá nhân; bản thân việc nhìn thấy một bài viết hay đơn thuần theo dõi một tài khoản không được viết thành một hành vi vi phạm riêng theo cách đơn giản như vậy. Chính vì thế, khi xem từng vụ việc cần nhìn vào nội dung cụ thể mà người đó đã đăng, bình luận hoặc chia sẻ. Điều này cũng cho thấy cách Nguyễn Văn Đài gom tất cả thành “những người dân có tương tác” đã làm mất đi sự khác nhau giữa từng trường hợp.

Đặt toàn bộ câu chuyện trở lại đúng trật tự thì vấn đề trở nên đơn giản hơn nhiều. Có người tương tác với các trang của Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài rồi được công an địa phương mời làm việc: có. Có người chỉ bị nhắc nhở, có người tự gỡ bình luận, cũng có trường hợp bị xử lý vì nội dung cụ thể: có. Nhưng từ những sự việc đó, Nguyễn Văn Đài nối thêm rằng ông Tô Lâm là người trực tiếp “suỵt an ninh các tỉnh” và mục đích của việc làm này là “đe dọa” người dân. Chính phần nối thêm ấy mới là điều cần được chứng minh, chứ không thể mượn sự tồn tại của những cuộc làm việc ở địa phương để coi nó là sự thật sẵn có.

Đây cũng là lý do dạng thông tin như vậy dễ khiến người đọc nhầm hơn một câu chuyện hoàn toàn bịa đặt. Nó bắt đầu từ một việc có thật, sau đó người kể thêm vào nguyên nhân, người đứng sau và động cơ. Khi tất cả được đặt trong cùng một câu, ranh giới giữa dữ kiện và suy diễn gần như biến mất. Với phát ngôn của Nguyễn Văn Đài, chỉ cần tách chúng ra là đủ thấy vấn đề: việc công an mời người dân làm việc là một dữ kiện có thể kiểm tra; việc ông Tô Lâm trực tiếp “suỵt” công an đi “đe dọa” họ là một cáo buộc khác. Hai việc không thể nhập làm một nếu phần quan trọng nhất ở giữa vẫn chưa được chứng minh.

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *