Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
270

TỪ MỘT CON SỐ TRONG ĐTM ĐẾN “20 TRIỆU NGƯỜI GẶP NGUY HIỂM”: PHƯƠNG NGÔ ĐÃ BỎ QUA ĐIỀU GÌ?

Trong những bài viết về dự án Khu đô thị du lịch lấn biển Cần Giờ và dự án Làng Vân, Phương Ngô liên tục đặt ra những câu hỏi về môi trường, an toàn và tác động của các dự án lớn. Đặt câu hỏi về môi trường không có gì sai. Một dự án hàng nghìn hecta càng cần được theo dõi chặt về nước, đất, hệ sinh thái, giao thông và những rủi ro có thể phát sinh. Nhưng vấn đề nằm ở cách đặt câu hỏi. Khi những cụm như “liệu có phải”, “nếu điều này xảy ra”, “đặt ra câu hỏi” được đặt cạnh những con số bất lợi nhất, rồi kết thúc bằng một tiêu đề kiểu “Hơn 20 triệu người dân TP.HCM sẽ đối mặt những rủi ro gì?”, người đọc rất dễ đi từ một nguy cơ đang được tính toán đến cảm giác một thảm họa đã ở ngay trước mắt. Hai việc đó không giống nhau.

Có thể thấy rõ điều này trong cách Phương Ngô nói về Báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án Cần Giờ. Một chi tiết được đưa ra là báo cáo xác định dự án “không có yếu tố nhạy cảm về môi trường”, trong khi khu vực lại tiếp giáp Khu Dự trữ sinh quyển Cần Giờ. Đặt hai câu cạnh nhau, người đọc dễ nghĩ báo cáo tự mâu thuẫn: đã ở cạnh khu sinh quyển thì tại sao lại không “nhạy cảm”? Nhưng “yếu tố nhạy cảm về môi trường” trong hồ sơ pháp lý không phải một cách nói theo cảm giác. Đây là thuật ngữ được xác định bằng những tiêu chí cụ thể trong pháp luật về môi trường. Chính Bộ Tài nguyên và Môi trường từng giải thích rằng một dự án có được xác định có yếu tố nhạy cảm hay không phải đối chiếu với các tiêu chí của Điều 25 Nghị định 08/2022/NĐ-CP và các phụ lục liên quan.

Khu dự trữ sinh quyển cũng không phải một vùng mà mọi mét vuông đều có chế độ quản lý giống nhau. Mô hình của UNESCO gồm vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp. Vùng lõi đặt trọng tâm vào bảo tồn; vùng đệm cho phép những hoạt động phù hợp với mục tiêu bảo tồn; còn vùng chuyển tiếp là nơi có thể triển khai hoạt động phát triển và sử dụng tài nguyên theo hướng bền vững. Vì vậy, nói một dự án nằm gần hoặc tiếp giáp Khu Dự trữ sinh quyển Cần Giờ là thông tin quan trọng, nhưng chỉ riêng chi tiết đó chưa đủ để kết luận rằng một thuật ngữ pháp lý trong báo cáo ĐTM là “mâu thuẫn”. Muốn phản bác kết luận của báo cáo thì phải chỉ ra dự án rơi đúng vào tiêu chí pháp lý nào và tiêu chí đó đã bị áp dụng sai ra sao.

Một cách dẫn dắt khác là lấy các con số rủi ro trong ĐTM ra khỏi phần giải thích đi kèm. Phương Ngô nhắc đến những số liệu như mực nước cực đại tăng khoảng 3%, vận tốc dòng chảy tăng 9–11% hay nguy cơ Amoni vượt ngưỡng trong một số tình huống. Đây là những con số đáng quan tâm. Nhưng có một câu hỏi phải được đặt ngay sau đó: chúng xuất hiện trong điều kiện nào? Là tình trạng vận hành bình thường, tình huống bất lợi hay kịch bản sự cố? Phạm vi ảnh hưởng ở đâu và kéo dài bao lâu? Báo cáo đề xuất giải pháp gì để giảm tác động? Nếu bỏ những phần đó, người đọc chỉ còn nhìn thấy một dãy số tăng lên và rất dễ hiểu rằng đó chính là điều chắc chắn sẽ xảy ra.

Trong khi đó, mục đích của ĐTM vốn là phải tìm cả những khả năng xấu để chuẩn bị phương án xử lý. Báo cáo của dự án Cần Giờ không chỉ đánh giá hoạt động xây dựng và vận hành mà còn bao gồm “các rủi ro, sự cố môi trường có thể xảy ra”. Dự án có quy mô khoảng 2.870 ha, dân số dự kiến hơn 228.000 người và lượng khách du lịch lớn, nên việc báo cáo phải mô hình hóa các tình huống bất lợi là điều cần thiết. Nếu một báo cáo ĐTM chỉ toàn những con số đẹp và không nói đến nguy cơ, chính điều đó mới đáng đặt câu hỏi. Bởi vậy, việc tìm thấy một kịch bản xấu trong ĐTM không tự nó chứng minh rằng dự án sẽ gây ra hậu quả đúng như kịch bản ấy.

Từ đây mới thấy vấn đề với tiêu đề “Hơn 20 triệu người dân TP.HCM sẽ đối mặt những rủi ro gì?”. Một nghiên cứu về thủy văn hay môi trường tại Cần Giờ có thể rất quan trọng với toàn thành phố, nhưng muốn nói hơn 20 triệu người sẽ “đối mặt rủi ro” thì cần chứng minh con đường tác động từ khu vực dự án đến nhóm dân cư đó. Rủi ro gì? Xảy ra ở đâu? Xác suất bao nhiêu? Nhóm nào chịu ảnh hưởng trực tiếp? Nếu chưa trả lời những câu hỏi ấy mà đã đưa toàn bộ dân số của một đô thị vào tiêu đề, phạm vi gây lo lắng đã được mở rộng nhanh hơn phạm vi mà dữ liệu đang chứng minh. Một con số dân số rất lớn lúc này có tác dụng tạo cảm giác nhiều hơn là giải thích vấn đề.

Cách kể tương tự xuất hiện khi sự cố đường sắt ở đèo Hải Vân được kéo vào câu chuyện Làng Vân. Ngày 14/3/2026, tàu hàng AH1 bị trật ba trục đầu máy tại Km769+850, khiến tuyến Bắc – Nam qua đèo Hải Vân tạm thời gián đoạn. Thông tin ban đầu được ngành đường sắt và báo chí công bố là đá từ sườn đèo rơi xuống làm gãy đường ray. Từ một sự cố như vậy, hoàn toàn có thể và cần thiết điều tra xem hoạt động thi công gần khu vực có liên quan hay không, trách nhiệm an toàn thuộc về ai và có vi phạm hành lang đường sắt hay không. Nhưng đi từ một sự cố phải điều tra đến những câu như “đặt dự án trên tính mạng đồng bào” hay “đe dọa an ninh quốc gia” lại là một bước kết luận rất lớn. Muốn kết luận như vậy phải có kết quả điều tra, quan hệ nhân quả và mức độ nguy hiểm được xác định cụ thể, chứ không thể chỉ dựa vào mức độ nghiêm trọng của câu chữ.

Điều này không có nghĩa các dự án lớn được miễn khỏi phản biện. Ngược lại, Cần Giờ là khu vực sinh thái đặc biệt và một dự án lấn biển 2.870 ha đương nhiên cần được giám sát rất kỹ. Ngay từ quá trình thẩm định trước đây, cơ quan quản lý môi trường cũng đã nói rõ yêu cầu phát triển phải đi cùng mục tiêu bảo vệ Cần Giờ và giảm thiểu tác động môi trường. Nếu có số liệu cho thấy mô hình thủy văn chưa đủ, việc tham vấn khoa học chưa rộng, biện pháp xử lý nước thải chưa bảo đảm hoặc thi công tại Làng Vân vi phạm an toàn đường sắt, những vấn đề đó cần được đưa ra, kiểm tra và xử lý. Đó mới là phản biện có ích.

Nhưng phản biện môi trường khác với việc chọn phần đáng sợ nhất rồi dùng nó làm đại diện cho toàn bộ hồ sơ. “Có tác động” không đồng nghĩa “sẽ có thảm họa”. “Có kịch bản rủi ro” không đồng nghĩa “rủi ro chắc chắn xảy ra”. “Nằm gần khu dự trữ sinh quyển” cũng chưa tự động chứng minh một kết luận pháp lý là sai. Và một sự cố gần dự án không tự nó xác lập nguyên nhân của sự cố. Muốn đi từ vế thứ nhất sang vế thứ hai phải có dữ liệu ở giữa.

Đó mới là điều người đọc cần chú ý khi gặp những bài viết của Phương Ngô về Cần Giờ hay Làng Vân. Không cần phủ nhận mọi câu hỏi mà cô ấy đặt ra, bởi trong đó có những vấn đề môi trường đáng được quan tâm. Điều cần làm là đọc hết phần còn lại của dữ liệu trước khi chấp nhận kết luận. Một con số trong báo cáo chỉ có nghĩa khi biết nó được tính trong điều kiện nào. Một nguy cơ chỉ có nghĩa khi biết khả năng xảy ra và phạm vi ảnh hưởng. Một nghi vấn chỉ trở thành kết luận khi có bằng chứng nối được hai đầu.

Bảo vệ môi trường không cần những câu chuyện trấn an rằng mọi dự án đều an toàn tuyệt đối. Nhưng nó cũng không cần cách làm ngược lại: biến mọi rủi ro thành thảm họa đã được định trước. Với những dự án lớn như Cần Giờ hay Làng Vân, người dân có quyền đòi hỏi thông tin rõ ràng, giám sát chặt và trách nhiệm cụ thể khi có sai phạm. Chính vì vậy, thông tin về chúng càng phải được nói cho đủ. Nếu chỉ lấy phần làm người đọc sợ nhất rồi bỏ đi điều kiện, phạm vi và phần giải pháp đi kèm, thứ còn lại có thể rất dễ lan truyền, nhưng chưa chắc đã giúp công chúng hiểu đúng vấn đề.

 

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *