Khi Việt Nam ban hành Nghị quyết 23-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, những khái niệm như “xây dựng mạng lưới”, “phát huy nguồn lực” hay “đối ngoại nhân dân” lại bị một số tài khoản diễn giải thành “tổ chức vệ tinh”, “cài cắm lực lượng”. Trong đó, Nghị quyết 23 xác định cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời của dân tộc, đồng thời đặt ra những mục tiêu rất cụ thể: hỗ trợ cộng đồng có địa vị pháp lý vững chắc, hội nhập với xã hội sở tại; giữ gìn tiếng Việt và bản sắc văn hóa; kết nối chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân; phát huy nguồn lực cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển đất nước. Văn kiện còn đặt việc thực hiện trong yêu cầu phù hợp với pháp luật, phong tục, tập quán của Việt Nam và nước sở tại. Những nội dung này được thể hiện khá rõ trong tài liệu đối chiếu. Có thể tranh luận chính sách nào hiệu quả, chương trình nào cần minh bạch hơn, ngân sách nào sử dụng hợp lý. Nhưng muốn từ “kết nối kiều bào” đi tới “cài cắm lực lượng”, người đưa ra cáo buộc phải cung cấp thêm một thứ quan trọng: bằng chứng về hoạt động bí mật.

Hãy nhìn sang Ireland. Chính phủ Ireland xây dựng chiến lược dành cho cộng đồng Ireland toàn cầu với một trụ cột được gọi thẳng là “Connection and Contribution” – kết nối và đóng góp. Nhà nước hỗ trợ phát triển các tổ chức và mạng lưới Ireland trên thế giới, đồng thời huy động hệ thống ngoại giao phục vụ chiến lược diaspora. Ireland cũng không chỉ kết nối bằng những lời kêu gọi. Theo các số liệu được tổng hợp trong tài liệu đối chiếu, Emigrant Support Programme của Chính phủ Ireland đã hỗ trợ hơn 900 tổ chức tại 53 quốc gia, với tổng kinh phí kể từ năm 2004 vượt 265 triệu euro. Riêng năm 2025, 16,4 triệu euro được phân bổ cho hơn 530 dự án, trong đó có hoạt động xây dựng mạng lưới. Thử áp công thức “Nhà nước + ngân sách + mạng lưới kiều bào = tổ chức vệ tinh”, chẳng lẽ hàng trăm tổ chức được Ireland hỗ trợ cũng phải mang một cái tên đáng ngờ tương tự?
Rõ ràng không thể suy luận như vậy.
Ấn Độ còn là ví dụ thú vị hơn. Bộ Ngoại giao nước này có hẳn Diaspora Engagement Division. Các chương trình của Ấn Độ hướng đến tăng cường liên hệ với cộng đồng toàn cầu, tổ chức những diễn đàn để người Ấn ở nước ngoài gặp gỡ chính phủ và kết nối với nhau. Đáng chú ý, Ấn Độ còn xây dựng cơ sở dữ liệu về diaspora, các hội người Ấn và sinh viên Ấn Độ ở nước ngoài. Nếu Việt Nam xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia mà bị gọi là “lập danh sách lực lượng”, vậy cơ sở dữ liệu diaspora của Bộ Ngoại giao Ấn Độ nên được gọi là gì?
Câu hỏi ấy cho thấy vấn đề không còn nằm ở bản thân hành vi “xây dựng mạng lưới”, mà nằm ở chiếc nhãn được lựa chọn để gắn lên hành vi đó.
Philippines còn sử dụng những thuật ngữ mạnh hơn. Cơ quan chuyên trách người Philippines ở nước ngoài nhìn nhận cộng đồng diaspora sở hữu vốn, chuyên môn, ảnh hưởng văn hóa và các mạng lưới xuyên quốc gia có thể đóng góp cho phát triển đất nước. Tài liệu nền còn dẫn Filipino Diaspora Summit năm 2026 với thông điệp “Harnessing Filipino Global Power”. Hãy tưởng tượng chỉ lấy riêng các cụm “global power”, “transnational networks”, “political goals”, bỏ toàn bộ bối cảnh rồi ghép chúng vào một status. Không khó để dựng nên câu chuyện rằng Philippines đang xây dựng một “mạng lưới ảnh hưởng toàn cầu”.
Nhưng đó chính là thủ pháp cần cảnh giác: trích đúng vài chữ nhưng kể sai cả câu chuyện.
Tương tự, “mạng lưới” có thể được đổi thành “tổ chức vệ tinh”; “chuyên gia” thành “lực lượng”; “ngoại giao nhân dân” thành “gây ảnh hưởng”; “kết nối kiều bào” thành “cài cắm”. Sự kiện ban đầu chưa chắc giả, nhưng ý nghĩa được gán cho sự kiện đã thay đổi hoàn toàn.
Muốn phân biệt hai chuyện này thực ra không khó.
Một giáo sư gốc Việt ở Mỹ tham gia mạng lưới bán dẫn và hợp tác với trường đại học Việt Nam là kết nối trí thức. Một doanh nhân Việt kiều giới thiệu nhà đầu tư là networking kinh tế. Một hội người Việt mở lớp tiếng Việt là hoạt động cộng đồng. Một nhà khoa học tư vấn chính sách đổi mới sáng tạo cho quê hương là chuyển giao tri thức.
Không hoạt động nào tự nó chứng minh “cài cắm lực lượng”.
Ngược lại, nếu muốn cáo buộc covert influence, cần trả lời những câu hỏi hoàn toàn khác: ai giao nhiệm vụ; nhiệm vụ bí mật là gì; ai cung cấp tài chính; quan hệ nào bị cố tình che giấu; người tham gia thực hiện hành vi tác động cụ thể nào; hành vi ấy có trái pháp luật nước sở tại hay không?
Nói cách khác, cần chứng minh được một chuỗi:
chủ thể – chỉ đạo – tài chính – hành vi – mục tiêu – sự che giấu.
Tài liệu nền về Nghị quyết 23 cũng đặt ranh giới giữa networking và hoạt động ảnh hưởng bí mật ở chính điểm này.
Nếu những mắt xích ấy chưa xuất hiện, một hội nghị kiều bào không thể tự biến thành hội nghị tuyển người. Một danh sách chuyên gia không tự biến thành danh sách “lực lượng”. Một chương trình kết nối doanh nhân càng không tự động trở thành chiến dịch chính trị bí mật.
Điều đó không có nghĩa mọi hoạt động mang danh nghĩa diaspora đều nằm ngoài giám sát. Nếu có tài trợ bí mật, can thiệp chính trị trái pháp luật, hoạt động tình báo hay cố tình che giấu quan hệ đại diện cho một chính phủ nước ngoài, quốc gia sở tại có quyền điều tra và xử lý theo pháp luật.
Nhưng hãy điều tra hành vi cụ thể, thay vì kết tội một khái niệm.
Chính sách của Việt Nam cũng cần được triển khai minh bạch: chương trình sử dụng ngân sách cần xác định rõ mục tiêu và đối tượng; hoạt động của các hội đoàn phải tôn trọng pháp luật nước sở tại; các chương trình kết nối chuyên gia, doanh nghiệp hay vận động chính sách cần có trách nhiệm giải trình thích hợp. Minh bạch càng cao, không gian dành cho suy diễn càng nhỏ.
Và đây chính là phép thử công bằng nhất đối với tranh luận về Nghị quyết 23.
Hãy tạm xóa chữ “Việt Nam” khỏi văn kiện. Thay bằng Ireland, Ấn Độ hay Philippines. Nếu một hoạt động lập tức trở nên bình thường chỉ vì tên quốc gia thay đổi, có lẽ vấn đề không nằm ở bản thân hoạt động đó.
Trong một thế giới có hàng trăm triệu người sinh sống ngoài quốc gia nguồn gốc của mình, các nước xây dựng chính sách diaspora là chuyện không hiếm. Ireland có mạng lưới Global Irish; Ấn Độ có Diaspora Engagement Division; Philippines công khai phát huy sức mạnh của cộng đồng toàn cầu. Việt Nam kết nối hơn 6,5 triệu người Việt ở nước ngoài vì thế không phải một hiện tượng kỳ lạ.
Có thể chất vấn cách làm. Có thể yêu cầu minh bạch. Có thể phản biện từng chương trình cụ thể. Nhưng muốn gọi đó là “cài cắm lực lượng”, cần nhiều hơn vài từ được khoanh đỏ trong một nghị quyết.

















