Không chỉ dừng ở hỗ trợ khẩn cấp, Dự án khắc phục hậu quả bão Yagi do Oxfam và các đối tác triển khai tại Lào Cai, Yên Bái và Hòa Bình (cũ), nay là Lào Cai và Phú Thọ còn hướng tới phục hồi sinh kế và phát triển bền vững. Phóng viên tạp chí Thời Đại đã phỏng vấn ông Phạm Quang Tú, Phó Giám đốc Quốc gia Oxfam tại Việt Nam, để làm rõ cách tiếp cận song hành cứu trợ – phục hồi và những bài học chính sách rút ra từ thực tiễn địa phương.
Ông Phạm Quang Tú: Điểm đặc sắc nhất của dự án là cách tiếp cận toàn diện, bao phủ cả chuỗi từ cứu trợ khẩn cấp đến phục hồi, tái thiết sau bão. Thông thường, sau thiên tai, người dân cần hỗ trợ ngay các nhu cầu thiết yếu để ổn định cuộc sống. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì chưa đủ, vì thiên tai thường gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất, sinh kế – tức là nền tảng lâu dài của đời sống người dân.
Chính vì vậy, việc phục hồi sinh kế và tái thiết cuộc sống sau thiên tai là không thể thiếu. Dự án của Oxfam đã thiết kế bao gồm cả hai giai đoạn này.

– Trong quá trình triển khai các hoạt động phục hồi sau bão tại ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái và Hòa Bình (cũ), nay là Lào Cai và Phú Thọ, Oxfam ưu tiên điều gì để bảo đảm tính bền vững trong khôi phục sinh kế?
Ông Phạm Quang Tú: Bên cạnh các hỗ trợ phổ biến như cấp phát tiền mặt không điều kiện, nhu yếu phẩm, bộ dụng cụ vệ sinh, chăn ấm, dầu ăn… Oxfam triển khai hai hoạt động rất thiết thực và có tác động dài hạn:
Thứ nhất là mô hình đổi công. Sau bão, hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất như đường liên thôn, kênh mương… thường hư hỏng nặng. Nếu không phục hồi kịp thời, người dân sẽ không thể sản xuất vụ sau. Trong khi đó, bà con sau thiên tai thường rất bận rộn, thiếu nguồn lực. Mô hình đổi công của Oxfam cho phép người dân tham gia sửa chữa hạ tầng bằng sức lao động của mình và được hỗ trợ thêm chi phí. Như vậy, vừa góp phần phục hồi hạ tầng, vừa giúp họ có thêm thu nhập.

hứ hai là hỗ trợ tổ chức lại sản xuất. Sau bão, nhiều người dân mất toàn bộ cây giống, con giống dự trữ. Oxfam hỗ trợ giống, vật tư thiết yếu, đồng thời cung cấp kiến thức và kỹ thuật sản xuất, giúp người dân phục hồi sinh kế một cách bền vững.
– Từ thực tiễn tại Việt Nam, theo ông, đâu là những bài học lớn nhất trong ứng phó và phục hồi sau thiên tai?
Ông Phạm Quang Tú: Chúng tôi rút ra ba bài học lớn:
| Theo báo cáo của Oxfam, Dự án khắc phục hậu quả bão Yagi do tổ chức này và các đối tác triển khai tại 15 xã tại ba tỉnh: Lào Cai, Yên Bái và Hòa Bình (cũ), nay là Lào Cai và Phú Thọ, với tổng nguồn lực tài chính gần 1,5 triệu USD (tương đương hơn 38 tỷ đồng). Tính đến cuối tháng 7/2025, dự án đã hỗ trợ hơn 45.000 người dân, gồm: 1.858 suất tiền mặt không điều kiện (3.000.000 đồng/suất); 1.210 suất tiền mặt có điều kiện hỗ trợ phục hồi sinh kế; 3.210 thùng chứa nước và bộ dụng cụ vệ sinh ưu tiên nhu cầu của phụ nữ và trẻ em gái; 2.860 suất hỗ trợ bao gồm dầu ăn và chăn ấm; 1.490 ngày công lao động tạo thu nhập giúp cải tạo đồng ruộng, nạo vét kênh mương thủy lợi và đường giao thông nông thôn. |
Thứ nhất, cần tiếp cận theo chuỗi từ cứu trợ khẩn cấp đến phục hồi sinh kế. Hai giai đoạn này phải đi song song, không tách rời. Chỉ khi sinh kế được ổn định thì người dân mới thực sự phục hồi sau thiên tai.
Thứ hai là sự phối hợp hiệu quả giữa các bên: chính quyền, tổ chức xã hội, nhà tài trợ và đặc biệt là người dân. Sau bão Yagi, có rất nhiều nguồn lực từ Nhà nước, quốc tế, doanh nghiệp, nhóm thiện nguyện… Nếu không điều phối tốt, dễ dẫn đến chồng chéo, thiếu hiệu quả. Oxfam không chỉ đánh giá thiệt hại mà còn đánh giá đúng nhu cầu thực sự của người dân, xác định ưu tiên theo đúng những gì người dân cần.
Thứ ba là bài học chính sách: cần sửa đổi các quy định liên quan đến cứu trợ khẩn cấp. Việt Nam đã có khung pháp lý như Nghị định số 50/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tiếp nhận, quản lý và sử dụng viện trợ quốc tế khẩn cấp để cứu trợ và khắc phục hậu quả thiên tai, Nghị định số 80/2020/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý và sử dụng viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài dành cho Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế cho thấy quy trình vẫn phức tạp, kéo dài thời gian.
Ví dụ, theo Nghị định 50/2020/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân tỉnh phải xin ý kiến nhiều bộ ngành trước khi phê duyệt viện trợ. Trong khi đó, mỗi ngày đối với người dân vùng bão là rất quý giá.
Cùng với Lào Cai, tỉnh Yên Bái (cũ) được chọn là hai địa phương đầu tiên triển khai Dự án khắc phục hậu quả bão Yagi do Oxfam viện trợ, nhưng do không kịp đưa nội dung vào kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh tháng 10/2024, phải chờ đến kỳ họp tháng 3/2025 mới phê duyệt ngân sách, khiến triển khai chậm tới tháng 4/2025, muộn hơn nhiều so với Lào Cai. Tôi cho rằng, những khoản viện trợ như vậy nên được đưa ra khỏi quy trình quản lý ngân sách thông thường để triển khai linh hoạt, đúng lúc.
– Thời gian tới Oxfam có định hướng gì để tiếp tục đồng hành cùng các địa phương Việt Nam trong ứng phó thiên tai và phát triển bền vững, thưa ông?
Ông Phạm Quang Tú: Từ khi thành lập, cứu trợ nhân đạo luôn là sứ mệnh cốt lõi của Oxfam. Chúng tôi sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với chính quyền các cấp, hội đoàn thể, tổ chức xã hội và người dân nhằm tăng cường năng lực phòng chống và giảm nhẹ rủi ro thiên tai.
Oxfam hiện là thành viên tích cực của nhóm Đối tác giảm nhẹ rủi ro thiên tai cấp quốc gia. Ngoài tham gia các hội thảo rút kinh nghiệm, chúng tôi thường xuyên gửi đề xuất, kiến nghị chính sách đến cơ quan chức năng.
Hiện tại, sau khi bão Wipha gây thiệt hại nặng ở Nghệ An, Oxfam đang huy động nguồn lực để hỗ trợ địa phương. Chúng tôi rất mong được sự phối hợp kịp thời và linh hoạt từ các cơ quan liên quan để viện trợ, dù nhỏ, cũng được tận dụng tối đa, không bị lãng phí.
Trong thiên tai, nỗ lực đầu tiên luôn đến từ người dân và Nhà nước. Nhưng nếu các nguồn lực bên ngoài, như từ tổ chức quốc tế, được sử dụng hiệu quả, đúng lúc, đúng nhu cầu thì giá trị đóng góp sẽ vô cùng lớn.
– Trân trọng cảm ơn ông!
















