Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
13156

Có thực “Việt Nam đánh đuổi Pháp là đánh đuổi nền văn minh”?

Từ phát ngôn của blog Osin Huy Đức ví von: “Việt Nam đánh đuổi Pháp là đánh đuổi đi nền văn minh” mà nó trở thành câu nói quen thuộc của các nhà dân chủ mạng. Từ đó đến này, dường như đã trở thành một trào lưu ca tụng “công đức” của thực dân Pháp với Việt Nam, nào là người Pháp sang Việt Nam không phải để bóc lột, mà để khai hóa văn minh. Họ cho rằng từ chỗ “không có gì cả”, Việt Nam đã được toàn quyền Doumer xây cho cầu đường, trường học, bằng tiền thuế thu ở Pháp nhiều hơn là Việt Nam; nào là Pháp giúp đào tạo nhóm học giả người Việt “có chất lượng cao”; nào là Pháp đẻ lại nhiều công trình văn hóa có giá trị ra sao,…  Mục đích của họ rõ ràng là muốn phủ nhận vai trò của cuộc cách mạng giành độc lập năm 1945 và cuộc kháng chiến chống Pháp sau đó. Họ làm thế cũng vì bản thân họ: trong thực tế, chế độ Việt Nam Cộng hòa đã được thực dân Pháp thành lập để làm đồng minh của Pháp ở Việt Nam. Bênh thực dân Pháp là bênh chế độ Việt Nam Cộng hòa, và che giấu cái thực tế rằng chế độ này thiếu hẳn tính độc lập và tính chính nghĩa.

Nhưng thực tế có như họ tô vẽ?

Thứ nhất, nhìn ngay hình ảnh  phụ nữ Việt Nam phải kéo xe ủi đường để đón toàn quyền Doumer sang nhậm chức, là một trong vô khối “bằng chứng” thực dân Pháp đã áp bức , bóc lột khổ sai, tàn bạo với dân Việt ra sao để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ khai thác thuộc địa

Thứ hai, có thật Việt Nam “không có gì” trước khi được Pháp “khai hóa”, và thực dân Pháp đã chi nhiều tiền ở Việt Nam hơn con số mà họ thu được không?

Mời bạn xem bức ảnh dưới đây, mà FB Phạm Anh Huy đăng lên group “Tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam” vào hôm 05/08:

Trong ảnh là vàng miếng từ kho bạc của triều đình nhà Nguyễn, bị quân Pháp cướp được sau khi chiếm kinh thành Huế vào 1885.

Về lượng tài sản bị quân Pháp cướp, bài viết của Phạm Anh Huy có đoạn:

“Kiểm điểm lại trận đánh tại Kinh thành đêm 22/5 năm Ất Dậu (1885), thất bại hoàn toàn về phía triều đình Huế. Pháp chỉ chế.t có 16 người, bị thương 80 người, còn quân Nam chế.t đến 1.200-1.500 người.

Quân Pháp khi chiếm được kho vũ khí thu được 812 súng thần công, 16.000 súng hỏa mai, khí giới, lương thực mất đến hàng triệu bạc.

Dù đã chuẩn bị khá cẩn thận trong việc tấn công đồn địch, nhưng vì thiếu thông tin liên lạc, nhất là khi phải đánh đột kích trong đêm tối, hơn nữa vũ khí yếu kém, không có sức công phá lớn và không thể bắn được tầm xa nên quân Nam đã thua trận.

Quân Pháp chiếm được một số lớn của cải mà triều đình chưa kịp chuyển đi, gồm 2.6 tấn vàng và 30 tấn bạc, trong số này chỉ có một phần rất nhỏ sau này được hoàn lại cho triều đình Huế. Còn lại, số 700.000 lạng bạc phải được 5 lính Pháp đóng hòm trong 5 ngày mới xong và chở về Pháp.

Ở lăng tẩm các vua Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị, vốn được trang trí đầy đủ bàn ghế nội thất và đồ dùng cá nhân của các vua, những gì có thể dễ dàng khuân đi đều đã biến mất: vương miện, giường gối, thảm sàn, chăn nệm, trang phục đại lễ, sập gụ chạm khắc, đồ trang trí, hộp đựng trầu cau, ống nhổ, thau đựng nước, hỏa lò, mùng màn bằng lụa thêu, lư hương, ấm chén trà với khay trà, ống điếu, tăm vót…

Nhiều vụ hôi của tương tự cũng đã diễn ra ở các dinh thự của các bộ và công sở. Theo báo cáo này, việc cướp phá hôi của đã diễn ra suốt hai tháng trời,

Linh mục Père Siefert, nhân chứng sự kiện này đã ghi lại:

“Kho tàng trong hoàng cung đã mất đi gần 24 triệu quan vàng và bạc… Cuộc cướ.p cạn ấy kéo dài trong 2 tháng còn gây tai tiếng hơn cuộc cướ.p phá Cung điện Mùa Hè của Thanh Đế ở Bắc Kinh”.

Cũng theo Père Siefert, khi đối chiếu với bảng kiểm kê tài sản của hoàng gia, thì quân Pháp đã cướ.p “228 viên kim cương, 266 món nữ trang có nạm kim cương, hạt trai, hạt ngọc, 271 đồ bằng vàng trong cung của bà Từ Dũ. Tại các tôn miếu thờ các vua… thì hầu hết các thứ có thể mang đi… đều bị cướ.p”

Quốc Sử quán triều Nguyễn ghi: riêng tại Phủ Nội vụ ở tầng dưới cất giữ 91.424 thỏi bạc đỉnh 10 lạng, 78.960 thỏi bạc đỉnh 1 lạng; tầng trên cất giữ khoảng 500 lạng vàng, khoảng 700.000 lạng bạc; kho gần cửa Thọ Chỉ cất giữ 898 lạng vàng, 3.400 lạng bạc. Toàn bộ số vàng bạc này đã bị Pháp chiếm.

Tướng De Courcy, chỉ huy cuộc tấn công vào kinh đô Huế, ngày 24/7/1885 đã gửi cho chính phủ Pháp một bức điện với nội dung sau:

“Trị giá phỏng chừng các quý vật bằng vàng hay bằng bạc dấu kỹ trong các hầm kín là 9 triệu quan. Đã khám phá thêm nhiều ấn tín và kim sách đáng giá bạc triệu.

Xúc tiến rất khó khăn việc tập trung những kho tàng mỹ thuật. Cần cử sang đây một chiếc tàu cùng nhiều nhân viên thành thạo để mang về mọi thứ cùng với kho tàng”.

Ngoài ra, trong quá trình quân Pháp truy đuổi Tôn Thất Thuyết từ tháng 7/1885, đã thu giữ ở tỉnh Quảng Trị 34 hòm bạc chứa 36.557 tiền bạc và 6 hòm bạc chứa 196 thỏi bạc, mỗi thỏi 10 lạng và 18.696 tiền bạc.

Đến tháng 5, niên hiệu Đồng Khánh nguyên niên (1886), Nhà Nguyễn dưới thời trị vì của vua Cảnh Tông, chính quyền Pháp mới đồng ý trao trả lại 1/2 số báu vật đã cướ.p.

Sách Đại Nam thực lục ghi “Toàn quyền đưa thư đến nói: Một nửa vàng, bạc giao trả nước ta, còn một nửa mang về đúc bạc đồng và sung cho tập binh 2 năm, cùng là chi phí các công tác. Vua chuẩn cho Thị lang bộ Hộ là Hồ Lệ và Hộ lý Nội vụ là Nguyễn Huề hội đồng với quan Pháp mà kiểm nhận”.

Trên thực tế thì tổng số tài sản mà triều đình Huế nhận được không tới 1/2, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, vì chính quyền Nam Triều xin người Pháp ưu tiên trao trả lại các bảo vật của hoàng triều như ấn tín, sách vàng và đồ thờ tự, nên số vàng bạc kim ngân bị cắt giảm bớt. Theo số liệu từ Bảo tàng Monnaie de Paris, phần Pháp giữ lại gồm 1.335kg vàng và 14.630kg bạc.”

Thứ ba, người Pháp có đem lại văn minh, nhân quyền hay sự nô dịch, xem số phận người Việt thua chó mèo, hành xử thua cả nô lệ. Nhìn bức ảnh phu nhân người Pháp rắc cám, thóc cho gà, gia súc, trong đó có người Việt đủ thấy bức tranh nghiệt ngã này. Còn nói về giáo dục, thứ mà họ hay ca tụng, thì nghe chính bậc trí giả thời đó đánh giá “Năm 1905, Phan Bội Châu cho rằng nền giáo dục của Pháp “chỉ dạy viết văn Pháp, nói tiếng Pháp, tạm thời làm nô lệ cho Pháp”. Học giả Trần Trọng Kim cho rằng nền giáo dục Pháp đã biến một xã hội “nghe đến nước mình thì ngây ngây như người ngoại quốc, sử nước mình không biết, tiếng nói nước mình thì chỉ biết qua loa”. Cho đến năm 1930, tổng số học sinh, sinh viên tất cả các trường từ tiểu học đến đại học chỉ chiếm 1,8% dân số Việt Nam. Do số người được đi học thấp, kết quả là tới năm 1945, trên 95% dân số Việt Nam bị mù chữ. Một nền giáo dục như vậy khiến người Việt bị tách rời khỏi cội rễ văn hóa dân tộc trong khi không hiểu biết đến nơi đến chốn, không hấp thu được phần tinh túy của văn hóa phương Tây. Người Việt bị biến thành những kẻ vong bản và vong nô trên chính quê hương của mình”.

Đi cùng với chính sách hạn chế giáo dục, thực dân Pháp dung dưỡng nạn cờ bạc bằng cách cho phép mở các sòng bạc để thu thuế. Ngoài những sòng bạc công khai có tính chất thường xuyên, tổ chức quy mô ở Chợ LớnLạng SơnMóng CáiHà GiangLào Cai còn có nhiều sòng bạc kín được tổ chức ở các dịp chợ phiên, ở những vòng đua ngựa ở Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn…

Nạn mại dâm cũng được thực dân Pháp hợp thức công khai và trở nên phổ biến ở các thành phố lớn. Vào những năm 1930, vấn đề mại dâm ở Việt Nam đã trở thành một vấn đề nhức nhối trong xã hội. Các báo đã mô tả tình trạng “lúc nhúc xóm bình khang, đầy rẫy phường bán phấn” trong các đô thị Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.

….

Những thông tin như vậy có thể tìm thấy trong vô số sách vở tài liệu, cả ở nước ngoài lẫn Việt Nam. Nhưng giới dân chủ mạng từ chối tất cả những kiến thức này, để tẩy trắng và tô hồng cho thực dân Pháp tại Việt Nam, khiến ta buộc phải nhìn nhận rằng họ là một lực lượng dốt nát, vong bản, cung phụng tôn thờ ngoại quốc để mưu lợi.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *