Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
59231

Hoàn thiện pháp luật về án tử hình

Hiến pháp năm 2013 không quy định trực tiếp về hình phạt tử hình nhưng đã nội luật hóa nhiều nội dung của các các công ước quốc tế nêu trên tại Chương 2 “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”

Phù hợp với các công ước quốc tế

Bộ luật Hình sự qua các thời kỳ cũng quy định cụ thể về hình phạt tử hình gắn liền với các tội danh. Bộ luật Hình sự đầu tiên được ban hành ở Việt Nam vào năm 1985, sau đó  được sửa đổi, bổ sung các năm 1989, 1991, 1992, 1997. Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999 để thay thế cho Bộ luật Hình sự năm 1985 (sửa đổi các năm 1991, 1992, 1997), gồm 24 chương, điều, trong đó có 29 điều có khung hình phạt cao nhất là tử hình. Tuy nhiên, Bộ luật này đã được sửa đổi vào năm 2009, trong đó bỏ hình phạt tử hình với 08 Điều.

Việc sửa đổi nêu trên bắt nguồn từ chủ trương hạn chế hình phạt tử hình đã được Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra ngay từ năm 2002 (ba năm sau khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999). Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (Nghị quyết số 08/NQ-TW) đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu hạn chế áp dụng hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự. Tiếp đến, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49/NQ-TW) đã khẳng định chủ trương “Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Chủ trương này đã được thực hiện từ năm 2009 khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1999 và tiếp tục được thực hiện khi xây dựng và ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) tiếp tục bỏ án tử hình ở tám 08 tội danh khác, đồng thời quy định người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử không bị áp dụng hình phạt tử hình. Tổng cộng, số lượng tội phạm áp dụng hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) là 18/314 tội danh.

Những số liệu kể trên cho thấy xu hướng Việt Nam đang thu hẹp phạm vi áp dụng án tử hình và cân nhắc khả năng xóa bỏ án tử hình. Hiện nay, số lượng tội danh bị áp dụng hình phạt tử hình chỉ chiếm 5.73% trên tổng số tội danh trong Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên bảo vệ Báo cáo quốc gia theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) Hội đồng Nhân quyền LHQ, đại diện Việt Nam đã nêu quan điểm: “Việt Nam còn duy trì án tử hình nhưng chỉ áp dụng đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng và cũng đang xem xét gia nhập nghị định thư bổ sung Công ước ICCPR để tiến tới xem xét bãi bỏ án tử hình”.

Bên cạnh đó, nội luật hóa Khoản 5, Điều 6 ICCPR, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi quy định về hình phạt tử hình có quy định về các trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình và không thi hành án tử hình tại Điều 40 của Bộ luật. Pháp luật về hình phạt tử hình còn được quy định trong Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và Nghị định quy định về thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc năm 2020 của Chính phủ.

Hoàn thiện pháp luật về án tử hình

Việc thực hiện án tử hình tại Việt Nam đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để bảo đảm giảm áp dụng hình phạt tử hình đối với người có hành vi phạm tội theo tinh thần của các điều ước quốc tế nhưng vẫn đảm bảo tính nghiệm minh của pháp luật, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật:

Thứ nhất, cần thu hẹp “trường hợp cần thiết” khi quy định hình phạt tử hình. Bộ luật hình sự cần quy định hình phạt tử hình chỉ nên áp dụng đối với một số loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong ba nhóm sau: nhóm tội xâm hại hoặc đe dọa sự tồn vong của chế độ, của nhà nước, của quốc gia; nhóm tội xâm hại tính mạng con người, đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển của giống nòi; các tội xâm hại an ninh và hòa bình thế giới. Đây cũng là xu hướng của tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế khi giảm dần tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình tại các quốc gia. Cuộc hội thảo vào tháng 12/2018 của Việt Nam về “Khả năng của Việt Nam gia nhập Nghị định thư tùy chọn thứ hai về bãi bỏ hình phạt tử hình theo Công ước ICCPR” cho thấy trong bối cảnh hiện nay tại Việt Nam, việc duy trì hình phạt tử hình là biện pháp mạnh mẽ nhất và hiệu quả nhất để phòng chống một số loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Sự ủng hộ của các chuyên gia tại Hội thảo là thu hẹp dần phạm vi hình phạt tử hình tiến tới bãi bỏ hình phạt này. Theo đó, cần nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật đối với 18 tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 bị áp dụng hình phạt tử hình để cân nhắc loại bỏ theo lộ trình hợp lý.

Thứ hai, cần bảo vệ quyền được sống của con người trong tư pháp hình sự. Mặc dù hình phạt tử hình được quy định trong một số tội danh trong Bộ luật Hình sự, nhưng Bộ luật Hình sự cũng không rõ ràng, chặt chẽ các điều kiện nào là phải áp dụng hình phạt tử hình trong số các hình phạt được luật liệt kê tại điều khoản có hình phạt tử hình. Vì vậy, Tòa án cũng cần cân nhắc khi tuyên hình phạt tử hình và đánh giá về khả năng thay thế bằng hình phạt khác mang để tạo cơ hội khắc phục (nếu có) từ sai lầm tư pháp.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật hình sự tại các điều khoản có quy định hoặc liên quan đến việc áp dụng hình phạt tử hình. Nên bổ sung quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với người bị thiểu năng trí tuệ hoặc bị hạn chế lớn về năng lực hành vi tại Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015, bởi khả năng tái phạm tội của người này là rất thấp và điều này cũng thể hiện chính sách nhân đạo của Việt Nam. Điều này cũng phù hợp với Nghị quyết của Uỷ ban Nhân quyền vào năm 2005 về việc yêu cầu các quốc gia không được tuyên hoặc thi hành án tử hình đối với người bị thiểu năng trí tuệ hoặc tâm thần. Nhưng cũng cần quy trình để xác định nhằm đảm bảo loại từ việc lợi dụng quy định này. Pháp luật hình sự cần quy định chặt chẽ điều kiện áp dụng hình phạt tử hình ở những tội phạm có quy định hình phạt này nhằm thu hẹp tỷ lệ áp dụng. Các đối tượng bị áp dụng cần xác định theo hướng là đối tượng vô cùng đặc biệt và trong trường hợp “thật cần thiết”. Pháp luật cần có các tầng nấc để đánh giá và chỉ áp dụng hình phạt tử hình như là biện pháp cuối cùng sau khi đánh giá tính hợp pháp, tính hợp lý.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *