Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
49826

Đâu là phạm vi của quyền tự do biểu đạt trên mạng xã hội?

 

Trên nền tảng của quyền tự do biểu đạt nói chung, quyền tự do biểu đạt trên mạng xã hội cũng hướng đến việc bảo vệ khả năng biểu đạt của cá nhân hoặc nhóm xã hội với một phạm vi gồm cả nội dung và phương thức, phương tiện biểu đạt.

Phạm vi quyền tự do biểu đạt như được tuyên bố tại Điều 19 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, bao gồm: được giữ quan điểm, bày tỏ ý kiến mà không bị xâm phạm; tự do tìm kiếm, tiếp nhận thông tin; tự phổ biến thông tin và tư tưởng bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào. Theo đó, việc bày tỏ ý kiến, tìm kiếm, tiếp nhận, phổ biến thông tin, tư tưởng thông qua các phương tiện truyền thông truyền thống hay Internet và bất kỳ phương tiện truyền tải thông tin nào xuất hiện sau này cũng đều nằm trong phạm vi quyền tự do biểu đạt.

Tái khẳng định và cụ thể hóa nội dung quyền tự do biểu đạt, khoản 2 Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ”. Theo quy định này, việc biểu đạt các thông tin, ý kiến được thực hiện đối với bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống, dưới bất hình thức nào như: bằng miệng, bằng văn bản in hoặc viết, hình thức nghệ thuật…qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào – gồm mạng xã hội trong bối cảnh hiện nay.

Trong bối cảnh thúc đẩy việc bảo vệ và hưởng thụ các quyền con người trên Internet, Bình luận chung số 34 năm 2011 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã diễn giải cụ thể khoản 2 Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 như sau:

Khoản 2 yêu cầu Quốc gia thành viên phải đảm bảo quyền tự do biểu đạt, bao gồm quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi loại thông tin và ý tưởng bất kể biên giới. Quyền này bao gồm việc biểu đạt và tiếp nhận những thông điệp về ý tưởng và quan điểm dưới mọi hình thức có thể truyền đạt đến người khác, theo quy định trong khoản 3, Điều 19 và Điều 20. Quyền này bao gồm các tranh luận chính trị, bình luận về một người và về các vấn đề chung, vận động, thảo luận về nhân quyền, báo chí, các biểu đạt văn hóa và nghệ thuật, dạy học, và tranh luận tôn giáo. Quyền này cũng có thể bao gồm các quảng cáo thương mại.

Khoản 2 bảo vệ mọi hình thức biểu đạt và hình thức truyền bá các biểu đạt đó. Những hình thức này bao gồm dạng nói, viết hay ngôn ngữ ký hiệu và cả các biểu đạt không lời như bằng hình hay vật thể nghệ thuật. Các phương tiện biểu đạt bao gồm sách, báo, tờ rơi, áp-phích, biểu ngữ, trang phục và các đơn từ pháp lý. Các phương tiện ấy bao gồm mọi hình thức âm thanh – hình ảnh cũng như các dạng biểu đạt bằng điện tử và qua internet.[1]

Theo diễn giải này, quyền tự do biểu đạt bao gồm việc tìm kiếm, tiếp nhận, thể hiện và truyền đạt không biên giới mọi loại thông tin và ý tưởng, bao gồm cả thông tin, ý tưởng về những lĩnh vực nhạy cảm hoặc dễ xung đột như tranh luận chính trị, tôn giáo, thảo luận nhân quyền, báo chí…. Quyền tự do biểu đạt thừa nhận mọi hình thức biểu đạt và hình thức truyền bá các biểu đạt đó như: ngôn ngữ (viết, nói, ký hiệu), âm thanh, cử chỉ, hình ảnh… qua các phương tiện truyền thống như: sách, báo, tờ rơi, áp-phích, biểu ngữ, trang phục và các đơn từ pháp lý… hay hiện đại như các dạng biểu đạt điện tử và qua Internet.

Theo đó, về phạm vi, quyền tự do biểu đạt cho phép biểu đạt thông tin, ý tưởng không giới hạn biên giới về bất kỳ lĩnh vực nào, dưới bất kỳ dạng biểu đạt nào và qua bất kỳ phương tiện nào. Được bảo đảm tương đương như vậy, quyền tự do biểu đạt trên mạng xã hội bảo đảm sự tự do bày tỏ, tìm kiếm, tiếp nhận, phổ biến thông tin và tư tưởng dưới dạng bất kỳ dạng nào thông qua các phương thức lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi hoặc bất kỳ phương thức nào khác có thể thực hiện trong môi trường mạng xã hội.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng mạng xã hội là một phương tiện biểu đạt hiện đại và có nhiều đặc thù riêng, việc tiếp cận, sử dụng nó đòi hỏi những điều kiện nhất định về bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học, kỹ thuật. Do đó, bảo đảm quyền tự do biểu đạt trên mạng xã hội phải gắn liền với việc bảo đảm quyền tiếp cận, sử dụng mạng xã hội. Như kêu gọi trong Báo cáo năm 2011 của Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc về tự do ngôn luận đối với các quốc gia cần “bảo đảm rằng truy cập internet được duy trì mọi lúc, kể cả trong thời gian bất ổn chính trị” và gắn liền với đó là “các cơ sở hạ tầng và công nghệ truyền thông thông tin như: cáp, modem, máy tính và phần mềm để truy cập internet cần được bảo đảm trước tiên”.[2] Theo đó, truy cập vào cơ sở hạ tầng và bảo đảm truy cập toàn cầu internet là nền tảng của quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt trên mạng xã hội.

Tựu chung lại, tự do biểu đạt trên mạng xã hội đòi hỏi đảm bảo các quyền trên cả nội dung, hình thức và phương thức thực hiện sự biểu đạt tư tưởng, gồm: 1) tự do thể hiện, tìm kiếm, sử dụng, truyền đạt các thông tin, ý tưởng trên mạng xã hội mà không bị giới hạn về lĩnh vực, khu vực địa lý; 2) tự do lựa chọn bất kỳ hình thức biểu đạt, truyền tải thông tin, ý tưởng nào thực hiện được trên mạng xã hội; 3) tự do tiếp cận, sử dụng mạng Internet và cơ sở hạ tầng phục vụ việc tiếp cận, sử dụng mạng Internet.

[1] Lã Khánh Tùng, Vũ Công Giao, Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966), Sđd, Phụ lục: Bình luận chung số 34.

[2] United Nations, Report of the Special Rapporteur on the promotion and protection of the right to freedom of opinion and expression, A/HRC/17/27, 2011, p.79, Link: https://www2.ohchr.org/english/bodies/hrcouncil/docs/17session/A.HRC.17.27_en.pdf

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *