Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
26888

Ảo ảnh phồn vinh của VNCH là phương thức “đấu tranh dân chủ”?

Do thất bại trong việc vạch ra đường hướng tương lai cho đất nước, giới chống cộng cờ vàng đang khai thác triệt để ảo ảnh phồn vinh của chế độ Việt Nam Cộng hoà cũ để biện minh cho các hoạt động chống cộng ngày nay. Tuy nhiên, ngay cả những lập luận mà họ đưa ra để biện minh cho chế độ này cũng thiếu sức thuyết phục.

Chẳng hạn trong một bài viết được đăng trên fanpage của Việt Tân vào ngày 31/01/2024, sau khi đăng một bức ảnh chụp Sài Gòn vào năm 1955, họ bình luận rằng đã từng có thời Sài Gòn “không hề có một tòa cao ốc nào mà chỉ rợp bóng cây”, vì vậy “tuyệt đẹp như một thành phố Châu Âu” (không hiểu sao không so với các thành phố Châu Á hoặc Châu Mỹ). Rồi họ buộc tội: “Từ ngày cái gọi là ‘giải phóng’ vào Nam, những hàng cây xanh rợp bóng mát tại thành phố Sài gòn đã dần dần biến mất… thay thế bằng những dự án ‘bất động sản’ với những cao ốc đầy nước mắt và máu của dân oan”. Tóm lại, họ cho rằng, chế độ mới đã đánh đổi các cao ốc ở Tp.HCM với “nước mắt và máu của dân oan”.


Đọc cáo buộc của Việt Tân, những người biết suy nghĩ không khỏi cảm thấy khó hiểu. Nhìn kỹ, ta sẽ thấy số cây xanh ở đường chân trời trong bức hình trên là đồng ruộng, chứ không phải thành phố. Năm 1955, khi còn nằm dưới quyền chế độ bù nhìn của Bảo Đại, Sài Gòn chỉ là một thành phố cỡ vừa thuộc Liên Hiệp Pháp, với nền kinh tế không mấy phát triển, và hầu hết phố xá do người Pháp xây dựng để phục vụ quá trình khai thác thuộc địa trước đây. Một số học giả, chuyên gia nghiên cứu khẳng định việc ca ngợi “‘hòn ngọc Viễn Đông’ là ‘số một’ chỉ là suy nghĩ của những người Việt hoài cổ và dí dỏm”. Theo KTS Khương Văn Mười, nguyên Phó chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam, lúc Sài Gòn được xem là “Hòn ngọc Viễn Đông” thì thành phố có quy mô nhỏ, phạm vi chỉ gói gọn ở trung tâm Sài Gòn ngày nay và Mỹ danh này cũng sớm kết thúc vào giữa thế kỷ 20. Còn theo số liệu thống kê của hai giáo sư kinh tế học Jean-Pascal Bassino và Pierre van der Eng về tổng thu nhập quốc dân (GDP) của các nước Đông Nam Á, từ năm 1913 đến năm 1970, kinh tế Việt Nam (cả miền Bắc và miền Nam) hầu như luôn thấp hơn Malaya (tiền thân của Malaysia với Singapore là đặc khu kinh tế). Có chuyên gia khẳng định Sài Gòn chưa bao giờ là số 1 khi trích dẫn sách “Pháp du hành nhật ký” của học giả Phạm Quỳnh viết năm 1922 ghi nhận về Singapore, có đoạn mô tả: “Mặt trời mới mọc, trông vào bến Singapore, không cảnh gì đẹp bằng… Vào đến Sài Gòn, thấy xe hơi chạy đường Catinat đã lấy làm nhiều, nhưng xe hơi ở Singapore lại còn nhiều hơn nữa, và ở Singapore đường phố nào cũng như đường Catinat hết thảy”. Còn sự thừa cây xanh và thiếu nhà cao tầng trong bức ảnh xuất phát từ cái thực tế rằng vào năm 1955, Sài Gòn chưa hề phải đối mặt với sức ép công nghiệp hoá, đô thị hoá ồ ạt như Việt Nam hiện tại. Điều này cho thấy tình trạng chưa phát triển của Sài Gòn, chứ không cho thấy sự phát triển của thành phố này. Và nó cũng không chứng minh được ưu thế nào của chế độ Việt Nam Cộng hoà, vì vào thời điểm đó chế độ này chưa tồn tại.

Để thấy vấn đề trong cách tuyên truyền của Việt Tân, ta hãy nhìn vào những cao ốc ở New York. Sự tồn tại cao ốc ở thành phố này có cho thấy nước Mỹ kém văn minh hơn Châu Âu, hoặc đã xây dựng tất cả “trên xương máu dân oan” hay không? Hoặc hãy nhìn vào hai bức ảnh phía dưới, hé lộ một khung cảnh tương đối giống nhà cao tầng ở các đô thị Việt Nam hiện nay. Thực ra đó là ảnh chụp khu ngoại ô Paris, được xây dựng khi thành phố này đang phải đối mặt với nạn nhân mãn.

Để lý giải tình trạng thừa mứa nhà cao tầng của Tp.HCM hiện tại, người ta không thể không xem xét tình trạng tăng dân số và đô thị hoá. Vào năm 1968, miền Nam Việt Nam có mật độ dân số trung bình là 95 người/km². Hiện nay, mật độ dân số trung bình của cả nước vào khoảng 320 người/km², tức gấp hơn 3 lần con số vừa nêu. Nếu không có nhà cao tầng, Tp.HCM không thể đáp ứng nhu cầu của những người dân mới sinh ra, hoặc mới đến thành phố sinh sống hoặc làm việc.

Năm 1955, Sài Gòn có sự bình đẳng mà Việt Tân gán cho nó không? Tình trạng bất bình đẳng vẫn còn bám riết chế độ Việt Nam Cộng hoà đến tận những ngày cuối cùng, chứ chẳng riêng chế độ Bảo Đại thuộc Pháp. Tới năm 1974, tỷ lệ người dân biết đọc và viết của Việt Nam Cộng hòa ước tính vào khoảng 70% dân số, 30% còn lại vẫn mù chữ – một chênh lệch rất lớn so với Việt Nam hiện nay. Trong khi đó, nền kinh tế miền Nam Việt Nam giai đoạn này cũng mang nặng tính lệ thuộc và bất bình đẳng. Cuộc sống của “hòn ngọc viễn Đông” hào nhoáng chỉ dành cho những người có tiền bạc, gia đình quan chức và số ít đối tượng buôn bán trong xã hội. Vùng nông thôn vẫn là nơi chậm phát triển, còn nơi thành thị phồn hoa đô hội thì nhan nhản tệ nạn mại dâm, xì ke, ma túy, phục vụ cho lính Mỹ và quân chư hầu. Trong 5 năm cuối cùng (1971-1975), tổng thu nhập quốc dân của Việt Nam Cộng hoà bằng tổng số tiền viện trợ kinh tế mà chế độ này nhận từ Mỹ – tức Mỹ viện trợ cho họ lượng tiền ngang với lượng tiền mà toàn bộ miền Nam làm ra. Không những lệ thuộc vào Mỹ, kinh tế Việt Nam giai đoạn này còn lệ thuộc vào Hoa kiều – nhóm người kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, người Hoa kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện…; và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ và 90% xuất nhập khẩu. Sài Gòn trước năm 1975 chắc chắn không phải là một xã hội bình đẳng.

Và Việt Tân nên nhớ rằng những người sáng lập đảng này – chủ yếu là quân nhân và quan chức VNCH trước năm 1975 – chính là thành phần hưởng lợi từ sự bất bình đẳng đó.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *