Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
4524

Phát triển văn hóa gắn chặt với xây dựng con người Việt Nam

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước. Trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định phát triển văn hóa phải gắn chặt với xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Đây không chỉ là yêu cầu mang tính chiến lược lâu dài mà còn là nhiệm vụ cấp thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự tác động mạnh mẽ của các luồng văn hóa đa chiều hiện nay.

Con người vừa là chủ thể sáng tạo văn hóa, vừa là sản phẩm của văn hóa. Văn hóa hình thành nhân cách, lối sống, đạo đức, bản lĩnh và khát vọng phát triển của mỗi cá nhân; ngược lại, chính con người là trung tâm gìn giữ, phát huy và sáng tạo các giá trị văn hóa mới. Vì vậy, phát triển văn hóa không thể tách rời nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới – những con người có lòng yêu nước, ý thức công dân, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm xã hội, năng lực hội nhập và khát vọng cống hiến cho đất nước.

Đồng bào người Dao ở huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng bảo tồn và phát huy giá trị nghề in hoa văn sáp ong truyền thống

Điều 41 Hiến pháp 2013 ghi nhận: “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa”.Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đặc biệt chú trọng việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa, tạo lập một hành lang pháp luật rộng mở, thuận lợi cho các hoạt động về bảo tồn di sản văn hóa và tự do hoạt động văn hóa; bảo vệ quyền tác giả, khuyến khích, cổ vũ sự tự do trong sáng tạo nghệ thuật của các tổ chức, cá nhân, như: Luật Di sản văn hóa 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Luật Xuất bản 2012, Luật Quảng cáo 2013, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2022, Luật Điện ảnh 2022 nhằm thể chế hóa, nội luật hóa các cam kết và thông lệ quốc tế khi Việt Nam tham gia các cơ chế, điều ước quốc tế, bảo đảm tính ổn định, thống nhất, khuyến khích sáng tạo; bảo đảm quyền tiếp cận, thụ hưởng văn hóa và tham gia vào các hoạt động văn hóa của người dân; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.

Nhiều đề án, chương trình đã được triển khai: Đề án “Bảo tồn, phát huy giá trị dân ca, dân vũ, dân nhạc của các DTTS gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2021-2030” ngày 22/12/2021 và Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị văn học dân gian của các DTTS đến năm 2030”. Các đề án, chương trình này được triển khai sâu rộng, tập trung ưu tiên phát triển văn hóa các DTTS, các dân tộc không có điều kiện tự bảo vệ và phát huy di sản văn hóa của dân tộc mình trên cơ sở rà soát, thống kê và hỗ trợ khẩn cấp, nâng cao năng lực tự bảo vệ nền văn hóa của các DTTS dưới 10.000 người, đặc biệt là 10 dân tộc gồm Brâu, Rơ Măm, Si La, Pu Péo, Bố Y, Ơ Đu, Lô Lô, Mảng, Cống, Cờ Lao. Chính phủ cũng phê duyệt chủ trương triển khai Dự án “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các DTTS gắn với phát triển du lịch” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030.

Thiết chế văn hóa cơ sở là nơi thực hiện phúc lợi xã hội của Nhân dân được hưởng thụ văn hóa qua các hội thi, liên hoan, tập luyện, giao lưu, truyền giữ các làn điệu dân ca, dân vũ. Người dân đều có quyền sử dụng các cơ sở, thiết chế văn hoá như khu vui chơi giải trí công cộng, công viên, nhà văn hóa, điểm bưu điện văn hóa xã, thư viện, sân vận động, rạp hát, rạp chiếu phim, điểm Internet công cộng… để phục vụ nhu cầu học tập, vui chơi, giải trí. Cả nước hiện có 66 thiết chế văn hoá cấp tỉnh (Trung tâm văn hoá, Trung tâm Văn hoá Nghệ thuật, Trung tâm Văn hoá – Điện ảnh, …); 8.207 xã, phường, thị trấn có Trung tâm Văn hoá – Thể thao, đạt tỉ lệ 77,4% trong đó có 5.625 đạt chuẩn (tỉ lệ 53%).

Các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, trưng bày triển lãm, tuyên truyền cổ động được tổ chức sôi nổi, rộng khắp từ Trung ương đến cơ sở. Nhiều hoạt động, triển lãm mỹ thuật, triển lãm nhiếp ảnh lớn qui mô quốc gia, quốc tế, các hoạt động, chương trình giao lưu quốc tế có sức lan tỏa trong và ngoài nước, thu hút được đông đảo nghệ sĩ tham gia và số lượng người đến xem, hưởng thụ nghệ thuật tăng lên, từ đó góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân.

Các ấn phẩm, sản phẩm văn hóa-thông tin được sản xuất và cung cấp cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu thuộc diện Chương trình phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng DTTS&MN (Chương trình 135), trường dân tộc nội trú, phòng văn hóa và thông tin cấp huyện (cũ), các đồn biên phòng, đội tuyên truyền văn hóa tại các vùng biên giới, biển, hải đảo. Nhiều hoạt động đa dạng cũng được tiến hành như triển khai các mô hình câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ dân gian các DTTS; tổ chức chương trình hoạt động văn hóa nghệ thuật phục vụ đồng bào vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng DTTS, phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị và các sự kiện chính trị, văn hoá, thể thao và du lịch trọng đại của đất nước, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của Nhân dân.

Công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hoá tiếp tục được quan tâm, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch, nhất là du lịch tín ngưỡng, văn hóa. Trong thời gian qua, Việt Nam đã bảo tồn, phục dựng, phát huy nhiều lễ hội truyền thống các DTTS (lễ hội Cầu mưa truyền thống của đồng bào dân tộc Lô Lô, tỉnh Tuyên Quang; lễ hội Ét Đông (Tết con dúi) của người Ba Na, tỉnh Quảng Ngãi; lễ hội truyền thống dân tộc Khơ Mú, tỉnh Điện Biên; lễ hội truyền thống dân tộc Mnông, tỉnh Lâm Đồng; lễ hội truyền thống dân tộc Bru, Vân Kiều, tỉnh Quảng Trị; lễ hội truyền thống dân tộc Lự, tỉnh Lai Châu; lễ hội truyền thống dân tộc Cơ Ho, tỉnh Lâm Đồng…; tổ chức các Ngày hội giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch dân tộc Thái, đồng bào Chăm và các DTTS theo các vùng và khu vực Tây Bắc, miền Trung, Tây Nguyên…; bảo tồn, phát huy nghề thủ công truyền thống làm nón lá của đồng bào dân tộc Tày ở xã Tân An, huyện Chiêm Hóa (cũ), tỉnh Tuyên Quang; bảo tồn, tư liệu hóa và hỗ trợ truyền dạy nghề ươm tơ làng Cổ Chất, tỉnh Ninh Bình; truyền dạy và phát huy nghệ thuật múa sư tử dân tộc Tày, Nùng tỉnh Lạng Sơn; tư liệu hóa và hỗ trợ truyền dạy kỹ thuật trang trí nhà hỏa táng của người Chăm Bàlamôn ở tỉnh Lâm Đồng; sưu tầm phục dựng bảo vệ lễ cúng phước của người Khmer ở huyện Vĩnh Châu, thành phố Cần Thơ.

Nhiều di sản văn hóa đã trở thành những sản phẩm văn hóa-du lịch hoàn chỉnh, vừa là động lực, vừa là mục tiêu cho sự phát triển ngành kinh tế mũi nhọn du lịch. Hiện nay, trên cả nước có trên 4 vạn di tích được kiểm kê, khoảng 11.000 di tích cấp tỉnh/thành phố, 3.653 di tích quốc gia, 143 di tích quốc gia đặc biệt, 08 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận. Tính đến hết năm 2024, Việt Nam có 620 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận, đã có 03 di sản tư liệu thế giới, 07 di sản tư liệu khu vực Châu Á – Thái Bình Dương thuộc Chương trình Kí ức thế giới của UNESCO; có tổng số 202 bảo tàng gồm 126 bảo tàng công lập, 04 bảo tàng quốc gia của bộ văn hóa, thể thao và du lịch, 07 bảo tàng chuyên ngành thuộc các bộ, ngành trung ương, 35 bảo tàng thuộc các đơn vị thuộc bộ, ngành, 80 bảo tàng cấp tỉnh và 76 bảo tàng ngoài công lập. Tổng số hiện vật khoảng trên 4 triệu, trong đó, có 327 bảo vật quốc gia được Thủ tướng Chính phủ công nhận. 66 “Nghệ nhân nhân dân” và 1.121 “Nghệ nhân ưu tú” đã được vinh danh, trong đó những người có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ. Một số di sản văn hóa tiêu biểu của các DTTS tại Việt Nam đã được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể, đại diện của nhân loại như: thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, nghệ thuật xòe Thái, nghệ thuật làm gốm của người Chăm. Tháng 12 năm 2024, UNESCO đã ghi danh Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, nâng tổng số di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại lên 16 di sản.

Việt Nam đã đăng cai, tổ chức nhiều sự kiện về văn hóa, thể thao và du lịch có qui mô, uy tín, chất lượng tầm cỡ khu vực và quốc tế như Liên hoan Phim quốc tế Hà Nội, Liên hoan Xiếc quốc tế, Liên hoan Múa rối quốc tế, Hội chợ Du lịch Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh, Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam, SEA GAMES, Asian Indoor Games… Thông qua các hoạt động này, các giá trị, tinh hoa, tri thức của nhân loại trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch đã được giới thiệu đến người dân Việt Nam, khẳng định Việt Nam là điểm đến, là nơi giao lưu, chia sẻ giữa các nền văn hóa, văn minh trên thế giới, khẳng định Việt Nam là một thương hiệu, một điểm đến quốc tế uy tín, chất lượng trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch.

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 “Về phát triển văn hóa Việt Nam”, văn hóa được đặt ở vị trí trung tâm của đời sống xã hội, mọi lĩnh vực phát triển, trở thành “sức mạnh mềm” của quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Phát triển văn hóa gắn chặt với xây dựng con người Việt Nam toàn diệntrên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam.

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *