Tổng chi phí cho nghiên cứu khoa học ở Việt Nam chỉ bằng chưa tới 0,6%GDP, tức là khoảng 20.000 tỷ mỗi năm, tương đương mức đầu tư cho một, hai cái tượng đài.
Nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, lẽ ra nhà khoa học phải được đầu tư xứng đáng để tạo nên sự lớn mạnh đột phá cho nông nghiệp, nông thôn nước nhà.

Cuộc sống vốn có sự éo le, khoa học dù có “sáng như ban ngày” thì cũng có góc khuất như câu chuyện về nhà khoa học trẻ – Hồ Thị Thương (Viện Công nghệ sinh học) là một ví dụ. Chị Thương là tác giả chính của 2 công bố và đồng tác giả của 4 công bố quốc tế uy tín. Chị có khát vọng “được đóng góp và cống hiến một phần sức lực nhỏ bé của mình vào sự phát triển khoa học của nước nhà, đồng thời, mang đến cho nước nhà những sản phẩm vaccine thú y có hiệu quả, ứng dụng tốt trong tương lai”. Nhưng, mức lương 3 triệu đồng/tháng – làm chị buồn đến bật khóc, vì không có nhiều tiền gửi về đỡ đần bố mẹ làm ruộng ở quê.
Câu chuyện ám ảnh người nghe, hằn lên như một vết thương chưa lành bởi “3 không”: Nhà làm chính sách không muốn làm chính sách vì mức thù lao như “bèo”. Nhà đầu tư không muốn đầu tư, bởi nông nghiệp chi phí lớn, rủi ro cao. Người nông dân không muốn con cháu mình lớn lên lại làm nghề nông nghiệp, bởi nông nghiệp nghèo!
Giữa các khoảng trống “3 không” ấy, nhà khoa học và khoa học nông nghiệp Việt Nam bị kẹt giữa hai thị trường lớn: Có tiền thì mua, nhập công nghệ chất lượng cao, của Israel, Hàn, Nhật, Mỹ, Đức. Ít tiền thì mua, nhập công nghệ từ Trung Quốc láng giềng. Thế là khoa học, nhà khoa học nông nghiệp đều “nhàn nhã” trong cơ chế thị trường, có tiền thì có công nghệ, tiền nào thì công nghệ ấy! Kinh tế khoa học, người làm khoa học giống như ngọn nến: Tạo ánh sáng cho người khác, nhưng cũng tự đốt cháy mình.
Nhớ cách đây gần chục năm, Vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ Khoa học- Công nghệ, tổ trưởng tổ biên tập Dự án Luật Khoa học công nghệ đã có câu nói để đời: Cơ chế tài chính cho nghiên cứu khoa học buộc người ta nói dối, chấp nhận cho người ta nói dối và khuyến khích người ta nói dối. Vì sao? vì cả nền khoa học, công nghệ nước nhà hàng năm “ngửa tay, mỏi mồm” để được hơn 2% tổng chi ngân sách nhà nước, có nghĩa chưa tới 0,6% GDP, có nghĩa chỉ khoảng 20 ngàn tỷ mỗi năm, tương đương mức đầu tư cho một, hai cái tượng đài.
Một chế độ tài chính “không theo giá thị trường”, khiến các nhà khoa học phải bịa ra báo cáo đề tài, hóa đơn chứng từ, khai khống ăn, ở để có đủ hồ sơ quyết toán. Việc các nhà khoa học lo tiền, để nghiên cứu còn vất vả, khốn khổ hơn cả việc nghiên cứu là một hiện thực. Nhưng có một hiện thực khác còn trái tai, gai mắt hơn nhiều. Đó là nghiên cứu xong ứng dụng thực tế thì ít mà lưu kho thì nhiều.
Sự lớn mạnh quốc gia phần nhiều nằm trong tay của các nhân tài, các nhà khoa học của đất nước. Thiết nghĩ cần sự đầu tư thích đáng cho khoa học, chế độ ưu đãi đối với người tài để hướng tới đất nước phát triển cao trên thế giới.

















