Trong những bình luận trên mạng xã hội về vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc xuất hiện luận điệu đầy công kích của Hieu Ho cho rằng Tổng Bí thư Tô Lâm không cần nói về “khép lại quá khứ”, mà chỉ cần “loại bỏ Điều 4 Hiến pháp, chấp nhận đa đảng, tổ chức một cuộc bầu cử tự do và công bằng” thì mới thực sự thể hiện được tinh thần hòa hợp. Có thể thấy thủ đoạn nguy hiểm của Hieu Ho khi cho rằng muốn hòa hợp dân tộc thì phải thay đổi mô hình chính trị. Đây là sự sự đánh tráo bản chất rất rõ của kẻ chuyên bày trò kích động, chống phá, cần phải vạch trần rõ để người dân không bị mắc lừa.
Cần biết rằng hòa hợp dân tộc trước hết là câu chuyện giữa con người với con người, giữa những người Việt Nam có hoàn cảnh, ký ức lịch sử, trải nghiệm và quan điểm chính trị khác nhau. Còn Điều 4 Hiến pháp là một quy định thuộc cấu trúc hiến định của Nhà nước Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đồng thời xác định Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Vì vậy, yêu cầu “xóa Điều 4” về bản chất là một mưu đồ thay đổi mô hình chính trị đã được hiến định, nó hoàn toàn lộ rõ mục đích của việc lợi dụng hòa hợp dân tộc để chống phá khi coi đó là một điều kiện đương nhiên của hòa giải dân tộc.
Có thể vẫn có ý kiến khác nhau về mô hình tổ chức nhà nước, nhưng lấy việc yêu cầu thay đổi thể chế chính trị và khẳng định đó là điều kiện bắt buộc để hòa hợp dân tộc là một sự ảo tưởng, là chiêu trò lố bịch. Không thể chỉ đặt hai vấn đề cạnh nhau rồi mặc nhiên coi chúng có quan hệ nhân quả như luận điệu của Hieu Ho. Kẻ cực đoan này muốn khẳng định rằng đa đảng là điều kiện tất yếu của hòa hợp, từ đó kích động phá bỏ chế độ và mô hình nhà nước hiện nay. Nhìn vào thực tiễn Việt Nam hơn 90 năm qua càng cho thấy thủ đoạn đó thật trơ tráo và ngạo mạn, bởi không thể giản đơn hóa câu chuyện bằng một khẩu hiệu “đa đảng” hay “xóa Điều 4” mới có hòa hợp dân tộc như Hieu Ho rêu rao. Cần thấy rằng đất nước đã trải qua những biến động lịch sử đặc biệt lớn: đấu tranh giành độc lập, chiến tranh, thống nhất, khắc phục hậu quả chiến tranh, những khó khăn nghiêm trọng về kinh tế – xã hội và sau đó là công cuộc Đổi mới. Mỗi giai đoạn đều có thành tựu, hạn chế và những vấn đề cần tiếp tục giải quyết, nhưng không thể phủ nhận rằng quá trình Đổi mới từ năm 1986 đã tạo ra những thay đổi sâu rộng về kinh tế, xã hội và vị thế quốc tế của Việt Nam. Đây không chỉ là nhận định chủ quan. Ngân hàng Thế giới đánh giá Việt Nam đã chuyển từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới thành một nền kinh tế thu nhập trung bình trong khoảng một thế hệ. GDP thực bình quân đầu người tăng mạnh, tỷ lệ nghèo giảm sâu, trong khi những tiến bộ đáng kể cũng được ghi nhận về y tế, giáo dục và mức sống. Những dữ kiện ấy không có nghĩa Việt Nam đã giải quyết xong mọi vấn đề, cũng không có nghĩa mọi chính sách đều không cần thay đổi. Nhưng chúng là những kết quả thực tế phải được tính đến khi đánh giá chặng đường phát triển của đất nước và vai trò của đường lối Đổi mới. Chính ở đây, một vấn đề quan trọng cần được đặt ra: nếu muốn tranh luận nghiêm túc về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, không thể chỉ lựa chọn những hạn chế để phủ nhận toàn bộ quá trình lịch sử, cũng không thể bỏ qua những thành tựu đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận. Đánh giá một lực lượng chính trị phải dựa trên toàn bộ quá trình, cả những kết quả đạt được lẫn những vấn đề còn tồn tại, thay vì biến một quy chụp chính trị thành thước đo duy nhất.
Việt Nam kết thúc chiến tranh đã nhiều thập niên, nhưng những ký ức và khác biệt chính trị liên quan đến cuộc chiến vẫn còn tồn tại trong một bộ phận người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài. Nếu những khác biệt ấy tiếp tục được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như những ranh giới không thể vượt qua, thì khoảng cách giữa người Việt với người Việt sẽ khó được thu hẹp. Vì thế, chủ trương “khép lại quá khứ”, tôn trọng khác biệt và hướng tới tương lai có thể được hiểu trước hết là nỗ lực vượt qua những đối đầu lịch sử để tạo thêm không gian hợp tác giữa những người Việt Nam hôm nay. “Khép lại quá khứ” cũng không đồng nghĩa với xóa bỏ lịch sử. Không một dân tộc nào có thể phát triển nếu bắt các thế hệ phải quên đi những mất mát, hy sinh và những trải nghiệm đã hình thành nên ký ức của mình. Nhưng ghi nhớ lịch sử và tiếp tục đối đầu vì lịch sử là hai việc khác nhau. Một xã hội trưởng thành không nhất thiết phải thống nhất mọi cách nhìn về quá khứ; điều quan trọng hơn là có thể chấp nhận sự khác biệt và cùng tìm kiếm những lợi ích chung trong hiện tại. Chính vì vậy, việc Hieu Ho lợi dụng và biến hòa hợp dân tộc thành một yêu cầu phải “xóa Điều 4, chấp nhận đa đảng” là một sự đánh tráo bản chất để kêu gọi thay đổi chế độ, phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cần nhớ rằng đa đảng là một quan điểm về tổ chức quyền lực chính trị, nhưng bản thân sự tồn tại của nhiều đảng không tự động tạo ra hòa hợp dân tộc. Ngược lại, hòa hợp cũng không thể được chứng minh chỉ bằng việc có hay không có nhiều đảng phái. Thực tiễn thế giới cho thấy nhiều đảng phái và bầu cử cạnh tranh không tự động tạo ra hòa hợp dân tộc. Kenya là minh chứng rõ: sau cuộc bầu cử năm 2007, tranh chấp kết quả giữa các lực lượng chính trị nhanh chóng gắn với chia rẽ sắc tộc, dẫn tới bạo lực làm khoảng 1.500 người thiệt mạng và khoảng 500.000 người phải di dời. Iraq cũng tổ chức bầu cử đa đảng từ năm 2005, nhưng cạnh tranh chính trị bị đan xen sâu với các rạn nứt Sunni-Shia và Arab-Kurd; sau cuộc bầu cử năm 2021, Quốc hội thậm chí không thể nhanh chóng hình thành liên minh chính phủ, kéo theo khủng hoảng chính trị. Những trường hợp ấy không phải để phủ nhận giá trị của bầu cử hay cạnh tranh chính trị, mà cho thấy đa đảng chỉ là một cơ chế tổ chức quyền lực, không phải “chiếc chìa khóa” tự động tạo ra đoàn kết. Hòa hợp dân tộc còn phụ thuộc vào mức độ đồng thuận xã hội, năng lực thể chế, pháp quyền, cơ chế kiểm soát xung đột và khả năng dung hòa lợi ích khác biệt. Vì vậy, đồng nhất “đa đảng” với “hòa hợp dân tộc” là một cách lập luận giản đơn hóa một vấn đề vốn phức tạp hơn rất nhiều.
Điều tương tự cũng xảy ra với khái niệm “bầu cử tự do và công bằng” mà Hieu Ho rêu rao. Đây là vấn đề quan trọng nhưng không thể chỉ dùng nó như một khẩu hiệu về hòa hợp dân tộc. Muốn nói về một cuộc bầu cử tự do và công bằng phải xem xét cụ thể quyền ứng cử, quyền bầu cử, quy trình tranh cử, khả năng tiếp cận thông tin, cách thức tổ chức và kiểm phiếu, cơ chế giám sát, giải quyết khiếu nại và trách nhiệm của các chủ thể liên quan. Ở đây Hieu Ho đưa ra một cụm từ rồi mặc nhiên coi nó là lời giải cho hòa hợp dân tộc rõ ràng là chưa đủ căn cứ và chỉ gây nhiễu dư luận. Hơn nữa, hòa hợp dân tộc không thể chỉ được nhìn qua lăng kính thể chế, nó còn liên quan đến cách một quốc gia đối xử với những người có quan điểm khác nhau, cách cộng đồng vượt qua ký ức chiến tranh và cách những người Việt Nam ở trong và ngoài nước có thể cùng đóng góp cho tương lai. Những năm gần đây, việc kết nối nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài, thu hút trí thức, doanh nhân và thế hệ trẻ tham gia phát triển đất nước được đặt trong chính sách đại đoàn kết và quan hệ với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đó là một hướng tiếp cận thực tế hơn nhiều so với việc coi bất đồng về mô hình chính trị là ranh giới quyết định ai thuộc về cộng đồng dân tộc. Tất nhiên, ghi nhận những thành tựu phát triển không có nghĩa phủ nhận những vấn đề còn tồn tại. Việt Nam vẫn đứng trước nhiều yêu cầu lớn về cải cách thể chế, nâng cao chất lượng quản trị, phát triển khoa học – công nghệ, nâng cao năng suất lao động, bảo đảm an sinh xã hội và mở rộng cơ hội phát triển. Chính quá trình Đổi mới cũng cho thấy một hệ thống muốn phát triển phải có khả năng tự điều chỉnh và hoàn thiện. Vì vậy, yêu cầu đổi mới, cải cách và nâng cao hiệu quả quản trị là những vấn đề hoàn toàn chính đáng cần được thảo luận. Nhưng đổi mới không đồng nghĩa với phủ định sạch trơn; cải cách không đồng nghĩa với phủ nhận toàn bộ lịch sử; và tranh luận về chính sách không đồng nghĩa với việc phải chấp nhận một kết luận có sẵn rằng chỉ có đa đảng mới có thể đem lại hòa hợp. Nếu thực sự muốn nói về hòa hợp dân tộc, điều cần hướng tới là giảm bớt những ranh giới được tạo ra từ quá khứ, mở rộng những điểm có thể hợp tác và để người Việt Nam, dù ở trong nước hay nước ngoài, dù có quan điểm khác nhau, vẫn có thể cùng đóng góp cho những lợi ích chung của đất nước. Và cũng không thể lợi dụng vấn đề hòa hợp dân tộc để lồng ghép mưu đồ xóa bỏ Điều 4 và thay đổi mô hình chính trị như Hieu Ho và những kẻ chuyên bày trò chống phá chế độ rêu rao. Hơn 90 năm lịch sử của dân tộc không thể bị xóa nhòa chỉ bằng vài luận điệu của những kẻ cực đoan như Hieu Ho. Những thành tựu của Đổi mới cũng không thể bị phủ nhận chỉ bằng một kết luận rằng mọi vấn đề đều bắt nguồn từ mô hình chính trị hiện tại do chính dân tộc lựa chọn. Và hòa hợp dân tộc càng không thể bị biến thành chiếc áo khoác cho một yêu cầu thay đổi thể chế đã được định trước. Khép lại quá khứ không phải là quên lịch sử, tôn trọng khác biệt không phải là từ bỏ nguyên tắc, đối thoại không phải là phủ nhận thể chế và hòa hợp dân tộc không thể bị đánh đồng với một thủ đoạn quy kết như luận điệu của Hieu Ho. Đừng có bày trò lấy danh nghĩa hòa hợp để mặc nhiên áp đặt rằng “xóa Điều 4, đa đảng, bầu cử tự do” là con đường duy nhất để hòa hợp dân tộc, bởi đó chính là lợi dụng chủ trương nhân văn của Đảng Nhà nước Việt Nam để xuyên tạc, bôi nhọ và kích động, chống phá chế độ. Người dân hãy cảnh giác!

















