Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
6452

Xuất khẩu lao động là đánh đổi lợi ích trước mắt?

 

Lâu nay, chủ đề xuất khẩ lao động là mục tiêu xuyên tạc, dè bỉu, công kích chống phá đất nước của thành phần phản động. Không chỉ khai thác, xuyên tạc chủ trương này là “bán dân đi làm nô lệ”, “bỏ rơi con dân”, “buôn người” hoặc như mới đây Việt tân còn công kích  “Đưa 125.000 lao động ra nước ngoài năm 2024 thực chất là…rồi đất nước sẽ còn gì khi trong nước chỉ còn lại những lao động già, thiếu hụt nguồn lao động trẻ trung, đầy sức khoẻ và ý tưởng cống hiến cho đất nước đây? …Nhưng tương lai đất nước chỉ đánh đổi bằng những lợi ích trước mắt, những dòng tiền chảy về túi riêng của ông này bà kia, vậy có đáng không, lãnh đạo Việt Nam ơi?”. Những luận điệu xuyên tạc kiểu này đều cho thấy sự phi lý, bất chấp chính quyền lợi của người lao động chỉvì mưu đồ bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta.

Thứ nhất, xuất khẩu lao động là việc làm ích nước lợi dân

Đây là hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng đối với mỗi quốc gia, nhất là ở các nước đang phát triển, nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập, phân công lại lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng nguồn thu ngoại tệ và góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế…Hiện nay, Việt nam đang trong giai đoạn dân số vàng, đây là cơ hội để Việt Nam tận dụng lợi thế của thời kỳ này đề ra các chính sách về phát triển nguồn nhân lực để tăng trưởng kinh tế. Người Việt Nam nói chung với đặc tính là cần cù, siêng học rất thông minh và năng động. Tuy nhiên, phần lớn người lao động lại gắn với ngành nghề nông nghiệp truyền thống thu nhập thấp, hạn chế về trình độ học vấn và chuyên môn, thiếu nhiều kỹ năng làm việc trong môi trường cạnh tranh quốc tế. Do đó, xuất khẩu lao động như một cánh cửa mở ra cơ hội cho người lao động phổ thông bước ra thế giới, tiếp cận và hoàn thiện kỹ năng làm việc trong môi trường hội nhập quốc tế và quan trọng hơn hết, là tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Thứ hai, Nhà nước luôn bảo vệ quyền lợi lao động ở nước ngoài

Trên thực tế, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài được thể hiện thông qua hàng loạt các chủ trương, chính sách phù hợp với từng giai đoạn; sau thời gian thực hiện Luật số 72/2006/QH11 về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đến năm 2020 Luật này được sửa đổi và thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, có hiệu lực từ ngày 1-1-2022, thể hiện chủ trương nhất quán của Việt Nam là không đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bằng mọi giá, bảo đảm quyền của người lao động được ra nước ngoài làm việc hợp pháp, được tự do lựa chọn hình thức làm việc phù hợp và không bị ép buộc phải làm việc trái ý muốn, khuyến khích người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, an toàn, thu nhập cao. Sau khi về nước, người lao động có thể phát huy và sử dụng hiệu quả các kiến thức, kỹ năng, trình độ phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Người lao động được bảo hộ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng trong thời gian làm việc ở nước ngoài, có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện về hành vi vi phạm pháp luật; có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bị người sử dụng lao động ngược đãi, cưỡng bức lao động hoặc có nguy cơ rõ ràng đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe hoặc bị quấy rối tình dục trong thời gian làm việc ở nước ngoài. Việc quy định như vậy cho phép người lao động chủ động tự quyết định việc làm việc ở nước ngoài, tự bảo vệ an toàn cho bản thân trước khi nhờ đến sự can thiệp của các tổ chức, cơ quan chức năng.

Trong thời gian vừa qua việc hợp tác xuất khẩu lao động của Việt Nam được Tổ chức Di cư Quốc tế ghi nhận và đánh giá cao, thể hiện qua lời phát biểu của Bà Park Mihyung, Trưởng đại diện Tổ chức Di cư Quốc tế tại Việt Nam (IOM) tại Hội thảo tham vấn về Chương trình và hoạt động hợp tác trong lĩnh vực di cư lao động cho giai đoạn 2024 – 2028, do Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) phối hợp với Tổ chức Di cư Quốc tế tại Việt Nam tổ chức. Hội thảo thể hiện cam kết của IOM trong hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam nhằm thúc đẩy phát triển kỹ năng, mang đến cơ hội việc làm tốt hơn cho người lao động di cư…“IOM đánh giá cao những cam kết quan trọng của Chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhằm bảo vệ quyền của người lao động di cư Việt Nam, và tạo ra môi trường thuận lợi thúc đẩy di cư lao động an toàn nhằm mang lại lợi ích cho chính người dân, cộng đồng và sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam”.

Thứ ba, không chỉ Việt Nam phát huy nguồn lợi xuất khẩu lao động

Trên thế giới không phải chỉ Việt Nam xuất khẩu lao động mà nhiều quốc gia đang phát triển cũng tăng cường xuất khẩu lao động, có những quốc gia xuất khẩu lao động trở thành động lực quan trọng để phát triển đất nước như  Ấn Độ, Mexico, Trung Quốc, Philippines… Như vậy, với luận điệu xuyên tạc của Việt Tân: Việt Nam xuất khẩu lao động thì tương lai đất nước chỉ đánh đổi bằng những lợi ích trước mắt, những dòng tiền chảy về túi riêng của ông này bà kia…là hoàn toàn sai trái, bịa đặt hòng bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta.

 

Hiện Việt Nam có khoảng 650.000 lao động đang làm việc tại 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tập trung ở một số thị trường lớn. Lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài với nhiều loại hình ngành nghề công việc khác nhau, chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất chế tạo chiếm 80% gồm (cơ khí, dệt may, giầy da, lắp ráp điện tử…); còn lại trong lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp, thủy sản, dịch vụ gồm (chăm sóc người già, người bệnh, giúp việc trong gia đình). Nhờ làm việc ở nước ngoài, người lao động Việt Nam có nhiều cơ hội tìm kiếm nguồn thu nhập tốt. Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ước tính cả năm 2023, số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng khoảng 155.000 người, là số lượng cao nhất từ trước đến nay và tăng 8,55% so với năm 2022. Bình quân mỗi năm, khoảng 120.000 đến 143.000 lao động ra nước ngoài làm việc, kiều hối từ lực lượng lao động này gửi về đạt 3,5 – 4 tỷ USD, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Trung bình mỗi năm, số lao động Việt Nam đi nước ngoài chiếm xấp xỉ 10% chỉ tiêu việc làm cần giải quyết. Trung bình 3 năm làm việc tại nước ngoài, người lao động có thể tích lũy được từ 500-700 triệu đồng. Tính chung, người lao động đi làm việc ở nước ngoài bình quân thu nhập cao hơn từ 5 đến 8 lần so với thu nhập trong nước. Với số tiền tích lũy được, nhiều gia đình đã vươn lên thoát nghèo, người lao động sau khi về nước có khả năng đầu tư vào sản xuất kinh doanh, phát triển sản xuất, quan trọng hơn nữa là tay nghề, trình độ của họ cũng trở thành một nguồn lực quý. Đây là nguồn vốn lớn bổ sung vào đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân trong nước. Dòng tiền của người Việt ở nước ngoài gửi về cho người thân, đảm bảo đời sống của nhiều gia đình, hỗ trợ an sinh xã hội trong nước. Dòng chảy này tăng cao một phần cũng là do người Việt làm việc ở nước ngoài tin tưởng vào sự ổn định của nền kinh tế và nhìn thấy những cơ hội đầu tư tốt hơn ở thị trường trong nước. Lợi thế lớn nhất của kiều hối hiện nay là không tiềm ẩn rủi ro như vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài FDI. Ở góc độ các ngân hàng thương mại, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam ngày càng nhiều cũng giúp cho các ngân hàng gia tăng nguồn thu từ hoạt động dịch vụ. Khi dòng kiều hối được chuyển qua kênh ngân hàng nhiều hơn, các ngân hàng sẽ có cơ hội tăng thu hút tiền gửi từ chuyển đổi ngoại tệ sang VND, thêm nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế. Theo thống kê, do các ngân hàng giữ ngoại tệ không lãi suất nên hơn 70% người dân nhận kiều hối đều chuyển sang VND. Điều đó giúp ngân hàng có nguồn ngoại tệ dồi dào để phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh, đặc biệt gia tăng dự trữ ngoại hối quốc gia, giảm thiểu sự phụ thuộc nguồn vốn nước ngoài. Kiều hối là một nguồn ngoại tệ vô cùng quan trọng nhằm bảo đảm cân đối cung – cầu ngoại tệ, góp phần quan trọng trong việc phát huy chính sách tiền tệ, tỷ giá và lãi suất trong bối cảnh áp lực tăng tỷ giá, tăng lãi suất là không nhỏ. Đồng thời, là một tín hiệu tích cực về nguồn lực tài chính giúp Việt Nam có thể bù đắp, giảm sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đất nước. Báo cáo về Di trú và Phát triển do Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Hợp tác quốc tế về người di cư (KNOMAD) cho biết lượng kiều hối về Việt Nam thường xuyên đạt trên 10 tỷ USD/năm kể từ năm 2010 đến nay. Đặc biệt, năm 2023 vừa qua, Việt Nam đã thu hút được khoảng từ 14-15 tỷ USD và nằm trong tốp 3 quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tốp 10 quốc gia trên thế giới về nhận kiều hối. Điều này giúp Việt Nam hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Ông Kenichi Ozawa – Tổng Giám đốc TAMAGAWA Việt Nam cho biết: “Chúng tôi cảm nhận rõ sự ổn định của đồng Việt Nam so với đồng USD là yếu tố rất quan trọng trong việc xác định xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động đầu tư. Kinh tế Việt Nam tăng trưởng tích cực, giá trị đồng tiền Việt Nam được giữa ổn định giúp những doanh nghiệp đầu tư như chúng tôi yên tâm”. Kiều hối dự báo tiếp tục tăng trong năm nay là yếu tố tích cực cho tỷ giá năm 2024, tạo thuận lợi cho chính sách tiền tệ nới lỏng với mặt bằng lãi suất thấp.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *