Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
939

Hợp lực đa bên thúc đẩy giảm nghèo đa chiều bền vững

Ngày 21/7 tại Hà Nội, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam tổ chức Hội thảo chuyên đề “Phát triển nông thôn bền vững và giảm nghèo đa chiều hiện đại”, tạo diễn đàn để các cơ quan quản lý, địa phương, tổ chức phi chính phủ nước ngoài và đối tác phát triển trao đổi kinh nghiệm, đề xuất giải pháp tăng cường phối hợp, huy động nguồn lực cho công tác giảm nghèo trong bối cảnh mới.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Nguyễn Ngọc Hùng, Phó Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, cho biết Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong công tác giảm nghèo. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới là tiếp tục duy trì những thành quả này theo hướng toàn diện, bền vững hơn, với sự chung tay của các bộ, ngành, địa phương, tổ chức phi chính phủ nước ngoài (PCPNN) và các đối tác phát triển.

Theo ông Nguyễn Ngọc Hùng, Hội thảo hướng tới tăng cường chia sẻ thông tin giữa các bên, tìm kiếm những cách làm hiệu quả, tháo gỡ khó khăn và xây dựng cơ chế phối hợp phù hợp. Điều quan trọng không chỉ là huy động thêm nguồn lực mà còn phải phối hợp hiệu quả, tạo điều kiện để những mô hình thành công được nhân rộng; đồng thời đưa tiếng nói, trải nghiệm và những vấn đề từ thực tiễn đến với các cơ quan tham gia hoạch định chính sách.

Hội thảo chuyên đề “Phát triển nông thôn bền vững và giảm nghèo đa chiều hiện đại”

Từ nguồn lực phân tán đến cách tiếp cận tích hợp

Thông tin về quá trình triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia, ông Nguyễn Lê Bình, Phó Chánh Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, công tác giảm nghèo của Việt Nam đã trải qua quá trình phát triển lâu dài, từ giải quyết thiếu đói, nâng cao dân trí đến tiếp cận giảm nghèo đa chiều, chú trọng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Trong giai đoạn vừa qua, ba Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã đạt nhiều kết quả tích cực. Theo thông tin tại Hội thảo, tổng nguồn vốn huy động cho ba chương trình giai đoạn 2021-2025 là 3,85 triệu tỷ đồng.

Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 79,3%; thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 58 triệu đồng, tăng 1,4 lần so với năm 2020; tỷ lệ hộ nghèo giảm khoảng 1% theo mục tiêu đề ra, trong khi tỷ lệ nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm 3,4% mỗi năm.

Tuy nhiên, nguy cơ tái nghèo còn cao, nhất là khi người dân chịu tác động của thiên tai và các biến cố bất ngờ. Việc ba chương trình cùng triển khai trên một địa bàn, có những nhóm đối tượng thụ hưởng giao thoa nhưng áp dụng cơ chế quản lý, phân bổ và giải ngân nguồn lực khác nhau cũng gây khó khăn cho địa phương. Nguồn lực vì thế có thời điểm bị phân tán, chưa phát huy tối đa hiệu quả.

Theo ông Nguyễn Lê Bình, việc hợp nhất các chương trình hướng tới khắc phục những hạn chế này, tập trung nguồn lực, nhân lực và giảm bớt những cơ chế chồng chéo. Trọng tâm ưu tiên là vùng đặc biệt khó khăn, trong đó có những địa bàn đông đồng bào dân tộc thiểu số, điều kiện hạ tầng và khả năng tiếp cận dịch vụ còn hạn chế.

Trong định hướng đầu tư, cơ sở hạ tầng tiếp tục là một ưu tiên, từ giao thông, trường học, cơ sở y tế đến nước sạch. Cùng với đó, chính sách sinh kế được định hướng chuyển từ hỗ trợ các hộ riêng lẻ sang phát triển theo chuỗi sản xuất, tăng cường kinh tế tập thể, gắn sản phẩm với thị trường, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh.

Ông Nguyễn Lê Bình, Phó Chánh Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chia sẻ tại Hội thảo

Ở góc độ chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, ông Triệu Văn Bình, Vụ trưởng Vụ Dân tộc, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội cho rằng giai đoạn 2026-2035 cần tăng cường lồng ghép các chương trình, từng bước chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo sinh kế bền vững, phát huy nội lực của người dân.

Nguồn lực cần tiếp tục tập trung vào những lĩnh vực then chốt như cơ sở hạ tầng, giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khỏe, ứng phó với biến đổi khí hậu và chuyển đổi số; đồng thời tăng cường vai trò giám sát và huy động sự tham gia của các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp và cộng đồng.

Giảm nghèo trong những thách thức mới

Các ý kiến tại Hội thảo cho thấy bức tranh nghèo đa chiều đang xuất hiện những khía cạnh mới, đòi hỏi chính sách và các chương trình hỗ trợ phải thay đổi tương ứng.

Từ góc nhìn của tổ chức PCPNN, đại diện Oxfam cho rằng nghèo hiện nay không chỉ được nhìn nhận ở khía cạnh thu nhập mà còn liên quan đến khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản và chịu tác động ngày càng rõ nét từ biến đổi khí hậu, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.

Chuyển đổi số mở ra những cơ hội việc làm mới nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu về kỹ năng. Nếu không được trang bị kiến thức phù hợp, các nhóm yếu thế, trong đó có người dân tộc thiểu số, có nguy cơ bị bỏ lại phía sau hoặc phải làm những công việc phi chính thức, thiếu ổn định. Trong khi đó, chuyển đổi xanh đòi hỏi thay đổi phương thức sản xuất, nhưng người nghèo thường hạn chế về nguồn vốn và khả năng tiếp cận công nghệ.

Oxfam đề xuất tăng cường mô hình hợp tác đa bên với sự tham gia của chính quyền, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, chuyên gia và cộng đồng người dân. Thực tiễn từ các mô hình phát triển chuỗi giá trị chè, quế, thảo dược; phát huy tri thức bản địa gắn với du lịch cộng đồng; chuyển đổi canh tác theo hướng hữu cơ, tuần hoàn cho thấy tiềm năng kết hợp giữa cải thiện sinh kế với bảo vệ môi trường và gìn giữ các giá trị văn hóa. Cách tiếp cận đặt ra là chuyển từ những hỗ trợ riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái phát triển bền vững.

Các đại biểu thảo luận tại Hội thảo

Từ thực tiễn địa phương, ông Mao Quốc Toản, Phó Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Tuyên Quang, cho biết địa phương đã chuyển cách tiếp cận “từ hỗ trợ sang đồng hành”. Trong 5 năm qua, tỉnh huy động được khoảng 64 nghìn tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước chiếm 11,5%, còn lại là các nguồn lực xã hội hóa và quốc tế. Tỉnh cũng đã xóa 14.000 căn nhà tạm, dột nát với nguồn lực huy động từ cộng đồng khoảng 1.255 tỷ đồng.

Tuy nhiên, hộ nghèo vẫn tập trung chủ yếu tại vùng sâu, vùng xa, nơi địa hình phức tạp khiến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội gặp nhiều khó khăn. Thiên tai làm gia tăng nguy cơ tái nghèo, trong khi sản xuất còn nhỏ lẻ, liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp hạn chế, trình độ nghề và khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật chưa cao.

Từ thực tế đó, Tuyên Quang mong muốn tiếp tục nhận được sự đồng hành của các đối tác trong các dự án thích ứng với biến đổi khí hậu, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, phát triển hạ tầng quy mô nhỏ có khả năng chống chịu lũ quét; hỗ trợ sinh kế, kỹ thuật chế biến sâu, chuyển đổi số và đào tạo kỹ năng số cho người dân.

Nếu ở miền núi, khoảng cách địa lý và điều kiện hạ tầng là những rào cản lớn thì quá trình đô thị hóa lại đặt ra những dạng thức nghèo mới.

Đại diện thành phố Hải Phòng chỉ ra một số thách thức như sự chênh lệch giữa kỹ năng của người lao động và yêu cầu của thị trường việc làm đô thị; lao động phi chính thức thiếu các cơ chế bảo hiểm; khó khăn trong tiếp cận nhà ở phù hợp; áp lực lên hệ thống an sinh xã hội; “nghèo số” do hạn chế về kỹ năng và thiết bị công nghệ; tác động của biến đổi khí hậu và khó khăn trong hòa nhập cộng đồng của người nhập cư.

Những vấn đề này cho thấy giảm nghèo đa chiều trong bối cảnh mới không còn giới hạn trong việc nâng thu nhập. Một người có thể không thuộc diện nghèo về thu nhập nhưng vẫn dễ bị tổn thương do thiếu kỹ năng nghề, khó tiếp cận nhà ở, y tế, giáo dục, an sinh xã hội hoặc các dịch vụ số.

Tăng kết nối giữa các tổ chức PCPNN và cơ quan hoạch định chính sách

Ông Nguyễn Ngọc Hùng, Phó Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài.

Kết luận Hội thảo, ông Nguyễn Ngọc Hùng cho rằng kết quả giảm nghèo của Việt Nam không chỉ đến từ chủ trương, chính sách mà còn từ quá trình hiện thực hóa chính sách thông qua sự phối hợp giữa các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, địa phương, đối tác phát triển, nhà tài trợ và các tổ chức PCPNN.

Theo thống kê chưa đầy đủ của Ban Điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM) được ông Nguyễn Ngọc Hùng thông tin tại Hội thảo, trong số 371 tổ chức PCPNN đang hoạt động tại Việt Nam, khoảng hai phần ba có các hoạt động trực tiếp hoặc có đóng góp liên quan đến giảm nghèo. Khoảng gần một nửa tổng giá trị viện trợ hằng năm của các tổ chức này dành cho những lĩnh vực có liên quan đến giảm nghèo theo cách tiếp cận đa chiều.

Theo ông, thực tiễn tại các địa phương rất đa dạng, do đó “không có một công thức chung” cho giảm nghèo. Việc tăng cường phân quyền và tính chủ động cho địa phương sẽ mở ra không gian để các địa phương lựa chọn cách tiếp cận phù hợp với nhu cầu thực tế, đồng thời tạo điều kiện để các tổ chức phi chính phủ nước ngoài phát huy thế mạnh là cách tiếp cận từ cơ sở và bám sát nhu cầu của cộng đồng.

Trong bối cảnh đó, ông Nguyễn Ngọc Hùng đề nghị các tổ chức tiếp tục đồng hành với Việt Nam nhưng cần linh hoạt, thích ứng với những điều kiện mới và chú trọng hơn đến hiệu quả thực chất của các chương trình, dự án; tăng cường chia sẻ thông tin về những mô hình hiệu quả để có cơ hội kết nối, nhân rộng.

Một trong những định hướng được nêu tại Hội thảo là xây dựng cơ chế trao đổi thông tin thường xuyên giữa PACCOM và các tổ chức PCPNN theo từng nhóm lĩnh vực. Theo đó, có thể lựa chọn các tổ chức nòng cốt, thiết lập đầu mối và tổ chức trao đổi định kỳ theo những chủ đề cụ thể. Những khó khăn, vướng mắc được tập hợp sẽ là cơ sở để Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và PACCOM trao đổi với các cơ quan chuyên môn liên quan.

Ông Nguyễn Ngọc Hùng cũng đề nghị tăng cường phối hợp trong vận động nguồn lực. Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và PACCOM sẵn sàng tham gia, hỗ trợ các tổ chức trong quá trình kết nối, vận động các nhà tài trợ với mục tiêu thu hút thêm nguồn lực phục vụ sự phát triển của Việt Nam.

Cùng với đó, các tổ chức PCPNN được khuyến khích chủ động gửi những sáng kiến, khó khăn và kiến nghị chính sách tới Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và PACCOM. Qua các cơ chế tham vấn, phản biện chính sách, những ý kiến từ các tổ chức và thực tiễn triển khai dự án ở cơ sở có thể được chuyển tải tới các cơ quan liên quan, góp phần giúp chính sách sát thực tế và khả thi hơn.

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *