Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
2866

Bản Chất Của Sự Chọn Lựa Lịch Sử Và Ranh Giới Giữa Đổi Mới Với Phủ Định

Trong dòng chảy vận động của lịch sử mỗi dân tộc, tư duy phản biện và nhu cầu tìm kiếm những lối đi mới nhằm tối ưu hóa nguồn lực quốc gia luôn là đòi hỏi chính đáng của mọi thế hệ. Tuy nhiên, sự tìm tòi sáng tạo phải dựa trên nền tảng kế thừa khoa học, tách biệt rõ ràng với những mưu đồ mượn danh nghĩa đổi mới để phủ nhận sạch trơn các giá trị cốt lõi. Thời gian qua, bài viết “Không ai có nghĩa vụ sống thay cho người đã chết” của tác giả Quoc Dung Hoang trên trang mạng “GS-TS Vỉa hè” là một biểu hiện điển hình cho lối tư duy ngụy biện này. Bằng cách cổ xúy quan điểm thế hệ hôm nay có quyền từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà cha ông đã chọn và quy kết rằng Việt Nam thực chất đang vận hành theo chủ nghĩa tư bản, bài viết đã cố tình thực hiện một cuộc đánh tráo khái niệm quy mô lớn giữa phương thức phát triển và mục tiêu phát triển nhằm đích nhắm cuối cùng là đòi hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Luận điểm cho rằng việc Việt Nam đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân, thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài và vận hành bộ máy theo cơ chế thị trường là bằng chứng của việc “tư bản hóa” thể chế, phản ánh một cái nhìn cực kỳ phiến diện và thiếu hụt kiến thức kinh tế chính trị sâu sắc. Sự ngộ nhận này xuất phát từ tư duy giáo điều cũ kỹ, vốn mặc định coi kinh tế thị trường là thuộc tính riêng có của chủ nghĩa tư bản, thay vì nhìn nhận nó như một thành tựu chung mang tính tiến hóa của văn minh nhân loại. Thực tiễn lý luận kinh tế đã chỉ ra rằng, cơ chế thị trường chỉ là phương thức, là công cụ phân bổ nguồn lực hiệu quả nhằm kích thích lực lượng sản xuất phát triển. Bản chất của một chế độ chính trị không nằm ở việc nó sử dụng công cụ nào, mà nằm ở chỗ nguồn thặng dư và thành quả từ công cụ đó được phân phối để phục vụ lợi ích của giai cấp nào, tầng lớp nào trong xã hội.

Việc định hình và hoàn thiện mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam hoàn toàn không phải là một sự mâu thuẫn giữa lý thuyết và thực hành, mà là sự vận dụng sáng tạo học thuyết hình thái kinh tế – xã hội vào điều kiện lịch sử cụ thể. Ngay từ những năm đầu thế kỷ trước, trong Chính sách kinh tế mới (NEP), V.I. Lênin đã chỉ rõ tính tất yếu của việc sử dụng các thành phần kinh tế nhiều loại hình trong thời kỳ quá độ để tạo nền tảng vật chất cho xã hội mới. Tại Việt Nam, việc tạo không gian cho kinh tế tư nhân hay hội nhập quốc tế là giải pháp chiến lược nhằm giải phóng sức sản xuất, tích lũy của cải để hiện thực hóa khát vọng “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đổi mới ở đây mang tính kế thừa mang tính biện chứng: thay đổi phương pháp, làm mới công cụ để bảo vệ và đạt được mục tiêu tối hậu là công bằng xã hội, chứ không phải là sự “thay màu đổi áo” như cách các thế lực thù địch cố tình dẫn dắt dư luận.

Một thủ pháp tinh vi khác được bài viết trên sử dụng là việc tạo ra một thế lưỡng phân giả tạo đầy ác ý, khi khẳng định rằng muốn chống tham nhũng hiệu quả, kiểm soát quyền lực toàn diện và bảo đảm quyền con người thì bắt buộc phải từ bỏ mô hình chính trị nhất nguyên hiện tại. Lập luận này cố tình áp đặt một định kiến cơ học rằng chỉ có thể chế đa nguyên, đa đảng theo kiểu phương Tây mới sở hữu năng lực tự làm sạch và bảo vệ dân quyền. Đây là một sự đánh tráo bản chất nghiêm trọng, bởi tham nhũng hay sự tha hóa quyền lực là căn bệnh mang tính phổ quát của mọi kiểu nhà nước, xuất hiện ở bất kỳ bối cảnh chính trị nào nếu thiếu đi một cơ chế giám sát hữu hiệu và tinh thần thượng tôn pháp luật nghiêm minh.

Trên thực tế, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực được Đảng và Nhà nước Việt Nam triển khai quyết liệt thời gian qua chính là một đòi hỏi tự thân, là quy luật tồn tại và phát triển của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực chất. Việc kiên quyết xử lý các sai phạm với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, từ những vụ án kinh tế lớn đến việc kỷ luật các cán bộ cấp cao, không phải là dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng thể chế mà là minh chứng cho năng lực tự kiểm soát, tự thanh lọc mạnh mẽ của Đảng. Việc kiểm soát quyền lực thông qua hệ thống luật pháp và sự giám sát trực tiếp của nhân dân được xác định là giải pháp để bảo vệ tính chính danh của chế độ, làm cho bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, liêm chính để phục vụ cộng đồng, hoàn toàn đối lập với mục tiêu kích động phá hoại hệ thống chính trị của các phần tử cơ hội.

Quyền con người không phải là một khẩu hiệu lý thuyết trừu tượng hay đặc sản độc quyền của bất kỳ hình thái chính trị nào, mà nó chỉ có giá trị thực tế khi được hiện thực hóa bằng các chỉ số an sinh, giáo dục, y tế và chất lượng sống của người dân lao động. Luận điệu xuyên tạc cho rằng vai trò lãnh đạo của Đảng là rào cản đối với quyền con người hoàn toàn sụp đổ trước những dữ liệu thực tế mang tính bước ngoặt và khách quan. Việc duy trì một thể chế chính trị ổn định, nhất quán chính là tiền đề tiên quyết giúp Việt Nam tập trung tối đa nguồn lực quốc gia cho các chương trình phát triển con người, bảo đảm quyền tiếp cận an sinh xã hội một cách bình đẳng và bao phủ rộng khắp đến các tầng lớp yếu thế trong xã hội.

Những thành tựu cụ thể là câu trả lời đanh thép nhất cho những nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người tại Việt Nam. Tính đến hết năm 2025, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn quốc đã đạt mức kỷ lục 95,2% dân số, bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe cơ bản cho đại đa số người dân. Tỷ lệ nghèo đa chiều của cả nước đã được kéo giảm xuống còn 2,95%, một tốc độ giảm nghèo ấn tượng được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi như một điểm sáng về bình đẳng xã hội. Đặc biệt, Báo cáo Phát triển con người năm 2025 của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã xếp Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam ở mức 0,766, chính thức đưa đất nước đứng vào nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao trên thế giới. Những con số biết nói này khẳng định rằng quyền con người tại Việt Nam đang được bảo vệ và thúc đẩy một cách thực chất bằng một hệ thống thể chế lấy người dân làm trung tâm, chứ không chỉ là những cam kết mang tính hình thức.

Mỗi thế hệ xuất hiện trong tiến trình lịch sử đều mang trên mình một sứ mệnh thời đại riêng biệt, gắn liền với những thách thức và cơ hội của giai đoạn đó. Nếu như thế hệ cha ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử là dùng xương máu để giành độc lập dân tộc, xóa bỏ ách nô dịch và thống nhất bờ cõi, thì thế hệ hôm nay có trách nhiệm hiện thực hóa những lý tưởng đó bằng việc xây dựng một quốc gia phồn vinh, tự cường trong môi trường hòa bình và hội nhập sâu rộng. Đổi mới, phá cách trong tư duy phát triển để tìm ra những giải pháp tối ưu cho nền kinh tế là điều vô cùng cần thiết, nhưng sự phá cách đó không bao giờ đồng nghĩa với hành vi quay lưng lại với gốc rễ lịch sử và những giá trị cốt lõi đã được kiểm nghiệm qua xương máu của hàng triệu con người.

Việc nhân danh quyền lựa chọn của thế hệ trẻ để đòi từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng thực chất là một sự ngụy biện mang tính vong bản, cố tình đánh tráo giữa phương thức thích ứng thời đại với việc thay đổi bản chất chế độ.

Hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam là sự lựa chọn mang tính lịch sử, được dẫn dắt bởi quy luật khách quan của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và khát vọng về một xã hội công bằng, không có áp bức, bóc lột. Sự tri ân sâu sắc nhất mà thế hệ hôm nay dành cho quá khứ không phải là sự rập khuôn máy móc, mà là việc giữ vững mục tiêu kiên định, đồng thời linh hoạt đổi mới cơ chế quản trị để đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên mới, nghiền nát mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực cơ hội chính trị.

 

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *