Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
68173

Nỗ lực phát triển toàn diện, bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam đã bác bỏ mọi xuyên tạc, chống phá

 

Vấn đề dân tộc luôn nhạy cảm và là mục tiêu chống phá, chia rẽ mà các thế lục thù địch không bao giờ bỏ qua. Kể từ khi Việt Nam giành độc lập, thống nhất đất nước, vấn đề dân tộc càng trở thành một mục tiêu tấn công trực diện nhằm phá hoại nỗ lực đoàn kết, thống nhất của thế chế và dã tâm biến nó thành “ngòi nổ” phá hoại yên bình đất nước ngày càng ráo riết. Một trong những thủ đoạn tấn công của chúng là rêu rao, phủ nhận vấn đề bình đẳng chính trị giữa các dân tộc, vu cáo Đảng, Nhà nước “phân biệt đối xử”, “tiêu diệt” dân tộc thiểu số yếu thế, kích động người DTTS quay lưng, chống phá lại sự đoàn kết và trật tự ổn định.

Việt Nam có 53 DTTS chiếm khoảng 14% dân số cả nước, cư trú đan xen ở 51 tỉnh, thành phố. Tính đến ngày 01/10/2019, tổng dân số DTTS cả nước là 14.119.256 người (7.073.907 nam, 7.045.349 nữ). Ý thức sâu sắc vấn đề dân tộc trong mối đoàn kết và giữ an ninh, ổn định đất nước, cả hệ thống chính trị đều nỗ lực triển khai đồng bộ nhiều chương trình, chính sách, đề án phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi đã góp phần thúc đẩy bình đẳng, nâng cao trình độ phát triển mọi mặt trong đồng bào DTTS, nhất là thúc đẩy bình đẳng giới đối với các DTTS. Có thể liệt kê một số nỗ lực đó, như:

Lĩnh vực chính trị, đã tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị của cán bộ nữ. Số lượng cán bộ nữ, cán bộ DTTS là Ủy viên Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội liên tục tăng qua các khóa gần đây. Nhiều cán bộ nữ, cán bộ DTTS được tín nhiệm bầu, bổ nhiệm giữ các chức vụ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước. Đội ngũ cán bộ nữ, cán bộ người DTTS ở cấp Trung ương hiện nay, tổng số cán bộ nữ ở các cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương là 7.521 người, trong đó có 17,5% giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý từ cấp vụ trở lên. Một số cơ quan có tỷ lệ cao như Thông tấn xã Việt Nam (41,8%), Đài Tiếng nói Việt Nam (25,2%), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (24,1%). Ở cấp tỉnh, tổng số cán bộ nữ là 5.814 người, trong đó có 714 người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý từ cấp sở và tương đương trở lên (12,3%). Một số tỉnh, thành phố có tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh đạt cao như: Lạng Sơn (24,4%), Lào Cai (19,1%), Hải Phòng (18,3%), Cần Thơ (18%), v.v.

Lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm, đã tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người DTTS đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động được triển khai thực hiện thông qua nhiều chính sách phát triển kinh tế – xã hội, góp phần thay đổi bộ mặt vùng DTTS, như: Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) giảm nghèo bền vững giai đoạn 2015 – 2020, Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới, Chương trình 135, Chương trình 30 a, v.v. Trong giai đoạn này, vai trò và tiếng nói của phụ nữ tham gia quá trình lập kế hoạch, thực hiện và giám sát các công trình đã được chú trọng, được bộ, ngành lồng ghép vào các văn bản hướng dẫn thực hiện như quy định tỷ lệ nữ trong ban chỉ đạo, ban giám sát, v.v.

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực nữ được nâng cao, từng bước bảo đảm sự bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng và ban hành nhiều cơ chế, chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo vùng đồng bào DTTS và miền núi như: Nghị định 86/2015/NĐ-CP, ngày 02/10/2015 đã quy định về chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; Nghị định 116/2016/NĐ-CP, ngày 18/7/2016 quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn bản đặc biệt khó khăn; Nghị định 57/2017/NĐ-CP quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh, hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên DTTS rất ít người, v.v. Các chương trình, dự án, chính sách của Nhà nước đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của con em đồng bào DTTS. Mạng lưới trường mầm non, trường phổ thông ở vùng đồng bào DTTS tiếp tục được củng cố, mở rộng, nhất là các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, dự bị đại học dân tộc; chất lượng giáo dục của các trường được nâng lên một bước.

Lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe, được sự quan tâm của Chính phủ, đến nay, cả nước đã có gần sáu triệu người DTTS có thẻ bảo hiểm y tế, phần lớn nhờ chính sách cấp bảo hiểm y tế miễn phí cho người DTTS sinh sống tại những địa bàn khó khăn, trong đó người DTTS có sử dụng thẻ bảo hiểm y tế đi khám chữa bệnh khoảng trên 90%.

Lĩnh vực văn hóa và thông tin, đã có bước phát triển nhanh, cơ bản đáp ứng nhu cầu thông tin, liên lạc của nhân dân. Từ năm 2016 đến nay, đã chuyển phát 18 loại ấn phẩm báo, tạp chí với số lượng 51,2 triệu tờ; kênh VTV5 (Đài Truyền hình Việt Nam) sản xuất và phát sóng hầu hết các ngày trong tuần, gồm 22 thứ tiếng DTTS; có hơn 16.000 điểm giao dịch bưu chính viễn thông, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong mọi tình huống. Cùng với sự phát triển chung của cả nước, tỷ lệ hộ gia đình người DTTS sử dụng điện thoại tăng lên đáng kể trong giai đoạn 2010 – 2018, nhưng không đồng đều.

Bình đẳng giới trong đời sống gia đình, từng bước xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới. Các hoạt động truyền thông dân số – kế hoạch hóa gia đình, các vấn đề về giới, bình đẳng giới, bất bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội được triển khai với nhiều nội dung và hình thức đa dạng, phong phú thu hút sự quan tâm của nam và nữ giới trong việc thực hiện công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình. Nhiều hoạt động truyền thông, vận động được các bộ, ngành và địa phương linh hoạt, chủ động thực hiện bằng nhiều hình thức sáng tạo, tranh thủ lồng ghép vào các chương trình, dự án chính sách khác đang triển khai tại vùng DTTS, từ đó nâng cao hiệu quả, góp phần hoàn thành các mục tiêu về bình đẳng giới.

Kết quả trên đặt trong thực tiễn Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc cùng sinh sống, mỗi dân tộc lại có văn hóa, tiếng nói, chữ viết riêng, lại thường cư trú ở vùng sâu, vùng xa, vùng địa bàn đặc biệt khó khăn, đại bộ phận đời sống của các gia đình DTTS còn khó khăn, một bộ phận đồng bào không biết tiếng phổ thông, trong khi một số dân tộc chỉ có tiếng nói, không có chữ viết, cùng với sự tồn tại của những phong tục tập quán, tín ngưỡng, hủ tục lâu đời trong đời sống đồng bào các dân tộc,… mới thấy hết nỗ lực của Việt Nam trong thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung, bình đẳng giới trong đồng bào DTTS nói riêng. Thực tiễn ấy đã bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực xấu về bình đẳng giới trong đồng bào DTTS ở Việt Nam nhằm chống phá cách mạng nước ta.

 

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *