Có một kiểu xuyên tạc nguy hiểm không bắt đầu bằng việc phủ nhận một sự kiện lịch sử, mà bằng cách lấy một phần sự thật, tách khỏi bối cảnh, rồi ghép thêm những suy diễn để tạo thành một “sự thật” mới. Những nội dung Nguyễn Tuấn đưa lên mạng xã hội về “VC nằm vùng”, “mất nước”, “nhuộm đỏ” cộng đồng người Việt ở nước ngoài và chính sách hòa hợp dân tộc là một ví dụ điển hình về thủ đoạn công kích nguy hiểm ấy. Không khó nhận ra công thức mà kẻ cực đoan này đang sử dụng để bóp méo lịch sử, công kích chế độ: từ hoạt động của lực lượng cách mạng trong lòng địch, Nguyễn Tuấn biến nó thành cáo buộc tội ác đối với cả một bộ phận người dân miền Nam; từ việc một bộ phận người Việt rời đất nước sau năm 1975 và sự sụp đổ của cái thây ma Việt Nam Cộng hòa thì Nguyễn Tuấn cho rằng đám tay sai ấy bị “mất nước”; từ chính sách vận động kiều bào, suy diễn thành một chiến dịch “nhuộm đỏ”; từ những vụ việc trong thực tiễn để quy chụp, cáo buộc về một xã hội chỉ có “cướp đất”, “đàn áp” và “khủng bố”. Cần vạch trần rõ chiêu trò dựng chuyện xuyên tạc lịch sử và bôi nhọ thực tế của kẻ cực đoan này.
Trước hết, cần phân biệt sự tồn tại của lực lượng cách mạng hoạt động bí mật với việc gán nhãn “VC nằm vùng” cho những người dân có quan điểm hoặc lựa chọn chính trị khác nhau. Trong chiến tranh Việt Nam, lực lượng cách mạng Miền Nam Việt Nam – mà Nguyễn Tuấn gọi là Việt Cộng tiến hành hoạt động quân sự và chính trị tại miền Nam và đó là một thực tế lịch sử. Nhưng từ đó suy ra rằng bất cứ người miền Nam nào từng che chở, giúp đỡ hoặc có cảm tình với lực lượng cách mạng Miền Nam Việt Nam này đều là “khủng bố đồng bào” chính là một sự vu cáo lố bịch và không thể chấp nhận được. Cũng cần đặt cuộc chiến vào đúng quy mô lịch sử của nó. Chiến tranh Việt Nam không phải một cuộc xung đột đơn tuyến giữa “một bên nằm vùng” và “một bên bị nằm vùng”. Đó là cuộc chiến kéo dài hàng chục năm mà đế quốc Mỹ đã gây ra, mà chủ lực là quân đội Hoa Kỳ cùng nhiều lực lượng và quốc gia khác mang quân đến đàn áp lực lượng cách mạng Miền Nam Việt Nam. Hồ sơ ngoại giao của chính Hoa Kỳ xác nhận Hiệp định Paris năm 1973 được ký bởi bốn bên và quy định việc rút lực lượng quân sự Mỹ khỏi Việt Nam. Vì vậy, biến toàn bộ diễn biến lịch sử 1954-1975 thành câu chuyện đơn giản rằng “miền Nam rơi vào tay cộng sản vì có VC nằm vùng” là thủ đoạn thâm độc của Nguyễn Tuấn là cố tình thu nhỏ toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước khi lấy một yếu tố của chiến tranh để thay thế cho toàn bộ bối cảnh lịch sử, qua đó đánh tráo mục tiêu độc lập, thống nhất đất nước. Thực tế, trong Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước ngày 17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ quyết tâm: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, đồng thời khẳng định mục tiêu “giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc”!”. Một cuộc chiến kéo dài hàng chục năm không thể bị thu nhỏ thành câu chuyện “nằm vùng” và lịch sử không thể được viết lại bằng định kiến hẹp hòi.
Tương tự, luận điệu mà Nguyễn Tuấn kích động rằng “sau năm 1975, chúng ta mất nước” lại càng cho thấy bản chất của một kẻ “hậu duệ” của cái thây ma “Việt Nam Cộng hòa” với lá cờ vàng 3 sọc đỏ đã bị lịch sử chôn vùi. Ngày 30/4/1975 là dấu mốc chấm dứt chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại Sài Gòn, kết thúc cuộc chiến tranh và mở ra tiến trình thống nhất đất nước. Khi lực lượng Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố trên Đài Phát thanh Sài Gòn: “Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, kêu gọi quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam”. Sau đó, Dương Văn Minh cùng nội các thực hiện việc bàn giao chính quyền. Sự kiện này cho thấy chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã chấm dứt tồn tại trên thực tế sau thất bại quân sự và chính trị của những ngày cuối tháng 4/1975. Bởi vậy, việc quy toàn bộ kết cục chiến tranh chỉ vào câu chuyện “VC nằm vùng” là cách giản lược một tiến trình lịch sử phức tạp. Cuộc chiến còn gắn với sự tham chiến trực tiếp của Hoa Kỳ, các diễn biến quân sự – chính trị kéo dài nhiều năm và Hiệp định Paris năm 1973. Và luận điệu “Sau năm 1975, chúng ta mất nước” của Nguyễn Tuấn thật lố bịch và nực cười, đáng thương hại về sự hoang tưởng ấy, nước nào của ông ta? Thực tế cái thây ma Việt Nam Cộng hòa do Mỹ dựng lên để làm tay sai của đế quốc đã đàn áp nhân dân, dựng lên chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm và các chính quyền tay sai khác, lê mãy chém khắp miền Nam, giết hại, tra tấn hàng chục vạn người dân vô tội ở miền Nam Việt Nam; dồn hàng triệu nhân dân miền Nam vào trong các trại tập trung, “ấp chiến lược” gây bao đau thương cho nhân dân; lấy miền Nam làm nơi thí điểm cho loại “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ; dùng chất độc hoá học sát hại sinh mạng của nhân dân Việt Nam; tung biệt kích, gián điệp hòng phá hoại và xúc tiến âm mưu xâm lược miền Bắc… Những cuộc thảm sát dã man của quân đội Mỹ và bè lũ tay sai Việt Nam Cộng hòa giết hại 504 dân thường vô tội, phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già tại thôn Mỹ Lai và Mỹ Khê ngày 16/3/1968; sát hại 430 dân thường (chủ yếu là phụ nữ và trẻ em) tại xã Bình Hòa, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi trong chiến dịch càn quét tháng 10/1966; Chính quyền Ngô Đình Diệm và quân đội VNCH phát động chiến dịch đàn áp đẫm máu nhằm vào các cựu kháng chiến và người có khuynh hướng cộng sản hoặc trung lập ở miền Nam; ước tính có khoảng 80.000 người dân đã bị hành quyết hoặc sát hại trong giai đoạn 1955-1960; quân đội VNCH đã nhiều lần nổ súng, đàn áp tàn khốc các cuộc biểu tình của Phật tử (1963), học sinh sinh viên, và các phong trào đấu tranh đòi hòa bình, dân chủ tại các đô thị miền Nam như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, làm nhiều dân thường tử vong… Vô cùng nhiều tội ác dã man của đội quân Việt Nnam Cọng hòa đối với nhân dân Miền Nam. Vậy mà cái loa rè Nguyễn Tuấn còn tung hô, cổ súy bậy bạ. Có thể còn có những bất cập về những chính sách thời hậu chiến, những mất mát, những sai lầm và những số phận con người, nhưng không thể biến một cách diễn giải cực đoan thành sự kiện hiển nhiên rồi dùng nó làm tiền đề cho mọi quy chụp, xuyên tạc và bôi đen chế độ.
Nếu thật sự muốn đánh giá hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, hãy nhìn vào những đổi thay của đất nước. Công cuộc Đổi mới từ năm 1986 đã tạo ra một chuyển biến kinh tế – xã hội có thể đo đếm. Ngân hàng Thế giới đánh giá Việt Nam đã chuyển từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới thành nền kinh tế thu nhập trung bình trong một thế hệ; GDP bình quân đầu người thực tế tăng khoảng sáu lần sau gần bốn thập niên Đổi mới, trong khi tỷ lệ nghèo giảm xuống dưới 1,3%.
Những kết quả mới nhất càng cho thấy bức tranh về thành tựu phát triển của Việt Nam không thể bị giản lược thành vài luận điệu bôi đen và miệt thị. GDP Việt Nam năm 2025 tăng 8,02%; riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97%, khu vực dịch vụ tăng 8,62%; thu nhập bình quân đầu người đạt 5.026 USD và Việt Nam đứng trong tốp 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Điểm xuyên tạc rõ hơn cả nằm ở cách Nguyễn Tuấn diễn giải chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Nếu mục tiêu thật sự chỉ là “nhuộm đỏ” kiều bào khi xuyên tạc rằng “CSVN vẫn muốn nhuộm đỏ những người trốn chạy chúng” thì tại sao chính sách này lại được xây dựng thành một lộ trình kéo dài hơn hai thập niên và ngày càng nhấn mạnh việc xóa bỏ mặc cảm, định kiến, hướng tới tương lai? Nghị quyết 36-NQ/TW năm 2004 xác định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Sau hơn 20 năm thực hiện, Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 tiếp tục khẳng định quan điểm đó, đồng thời cho biết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện có hơn 6,5 triệu người tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nghị quyết xác định cộng đồng này là một nguồn lực chiến lược và là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới. Đó là một quá trình mà chính sách có thời gian thực hiện với kết quả cụ thể và ý nghĩa hết sức quan trọng trong thực tiễn. Những Chương trình Xuân Quê hương là sự kiện chính trị – văn hóa thường niên lớn nhất dành cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đất nước vào mỗi dịp Tết đến xuân về, điều đó đã cho thấy tinh thần gắn kết cộng đồng, tạo cầu nối bền chặt giữa kiều bào xa xứ với đồng bào trong nước và khơi dậy tình yêu quê hương, truyền thống đại đoàn kết dân tộc, hướng về cội nguồn đối với kiều bào. Cùng với đó, lãnh đạo Đảng, Nhà nước tri ân, ghi nhận những đóng góp quý báu của người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Không thể chỉ bằng một sự định kiến hẹp hòi mà biến toàn bộ quá trình ấy thành “âm mưu nhuộm đỏ” rồi công kích như thủ đoạn của Nguyễn Tuấn.
Đặc biệt, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kêu gọi “khép lại quá khứ, cùng chung tay kiến tạo tương lai dân tộc” tại cuộc gặp cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ ngày 21/9/2026 phải được đặt trong chính dòng chảy đó. Khép lại quá khứ không có nghĩa xóa lịch sử. Hòa hợp không có nghĩa mọi người phải cùng một quan điểm. Và chung tay xây dựng đất nước không có nghĩa từ bỏ ký ức hay chính kiến của mình. Ngược lại, một chính sách hòa hợp thực chất phải tạo ra khả năng để những người từng đứng ở những phía khác nhau của lịch sử có thể cùng tồn tại và đóng góp cho tương lai. Và càng không thể lợi dụng những vụ việc cong tồn tại trong thực tế hiện nay để quy chụp, cáo buộc rằng toàn bộ xã hội Việt Nam đều bị “cướp nhà cướp đất”, dân bị “đánh chết trong đồn công an” hay mọi tiếng nói bất đồng đều bị đàn áp. Một vụ việc không thể tự động trở thành bằng chứng cho cả một chế độ. Một trường hợp sai phạm không thể tự động biến thành bản chất của cả xã hội. Và một cáo buộc không trở thành sự thật chỉ vì nó được lặp đi lặp lại trên mạng xã hội. Đáng nói hơn, những luận điệu ấy thường cố tình bỏ qua một thực tế: chính sách hòa hợp dân tộc đã được triển khai từ nhiều năm sau thống nhất và tiếp tục được điều chỉnh trong thời kỳ Đổi mới. Nghị quyết 36 năm 2004, Chỉ thị 45 năm 2015 và Nghị quyết 23 năm 2026 cho thấy một đường hướng nhất quán: tăng cường gắn kết cộng đồng người Việt ở nước ngoài, giảm định kiến do quá khứ và tạo điều kiện để họ đóng góp cho đất nước. Đây mới là điều cần được nhìn thẳng: một dân tộc từng trải qua chiến tranh không thể mãi bị chia đôi bởi những đường ranh của quá khứ. Người Việt có quyền có những ký ức khác nhau về chiến tranh. Có người ở lại, có người ra đi. Có người từng đứng ở phía này, có người ở phía kia. Có người không muốn quay lại, có người trở về, đầu tư, làm việc, nghiên cứu và đóng góp. Nhưng từ những khác biệt đó để tiếp tục chia người Việt thành “Quốc gia” và “Cộng sản”, rồi gán cho những người không cùng quan điểm một nhãn “nằm vùng”, là cách nhìn chỉ làm cho vết thương quá khứ sâu thêm. Sau hơn nửa thế kỷ, câu hỏi đáng đặt ra không phải là ai phải tiếp tục căm ghét ai, mà là người Việt có thể làm gì để lịch sử trở thành bài học thay vì trở thành cái cớ cho sự chia rẽ. Nguyễn Tuấn có quyền đưa ra cách nhìn riêng của mình nhưng không thể tùy tiện dựng chuyện xuyên tạc, bẻ cong lịch sử và quy chụp, vu khống, công kích chế độ.
Lịch sử không được phép xuyên tạc, bôi nhọ, và tương lai của người Việt càng không thể bị quyết định bởi những định kiến được nuôi dưỡng từ một cuộc chiến đã kết thúc hơn nửa thế kỷ mà những kẻ như Nguyễn Tuấn cố tình xuyên tạc, kích động, chống phá.
Nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com

















