Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
1823

CỨ ĐA ĐẢNG LÀ THỊNH VƯỢNG? NGUYỄN VĂN ĐÀI ĐANG BIẾN MỘT VẤN ĐỀ PHỨC TẠP THÀNH CÔNG THỨC

Nguyễn Văn Đài gần đây chế giễu những người lo ngại đa đảng có thể gây bất ổn là “tầng lớp hạ lưu về nhận thức”, rồi khẳng định các nước từng thuộc khối xã hội chủ nghĩa sau khi chuyển sang “dân chủ đa đảng” đã không rơi vào hỗn loạn mà trở nên “thịnh vượng, xã hội tự do và ổn định thực sự”. Ông gọi đó là “ánh sáng mà bò đỏ không dám nhìn vào”. Bỏ qua cách gọi miệt thị, điều đáng bàn nhất nằm ở chính lập luận: cứ chuyển sang đa đảng thì đất nước sẽ tự do hơn, ổn định hơn và giàu lên. Đây là cách giải thích quá đơn giản cho một vấn đề vốn phức tạp hơn rất nhiều.

Trước hết phải nói công bằng rằng nhiều nước Trung và Đông Âu đã phát triển mạnh sau khi thay đổi thể chế từ cuối những năm 1980, đầu những năm 1990. Ba Lan, Czechia, Estonia hay nhiều nước khác đã nâng cao rõ rệt mức sống và hội nhập sâu với châu Âu. Không nên phủ nhận điều đó. Nhưng nói những nước ấy giàu lên chỉ vì đa đảng lại bỏ mất hàng loạt thay đổi diễn ra cùng lúc.

Ngân hàng Thế giới khi phân tích sự phát triển của các nước Trung và Đông Âu không chỉ nói đến chính trị. Các yếu tố được nhấn mạnh gồm cải cách thể chế, xây dựng kinh tế thị trường, mở rộng thương mại, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiền từ các quỹ của Liên minh châu Âu và việc tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của châu Âu. Riêng các nước gia nhập EU năm 2004, lượng vốn FDI tích lũy đã tăng hơn bốn lần trong giai đoạn 1997-2004. Ngân hàng Thế giới gọi đây là cả một quá trình hội nhập và cải cách, chứ không phải kết quả của riêng việc có thêm nhiều chính đảng.

Nói đơn giản, Ba Lan không thể giàu lên chỉ vì có nhiều đảng tranh cử. Nước này còn mở cửa thị trường, cải cách doanh nghiệp, tiếp cận thị trường chung châu Âu, nhận đầu tư, nâng cấp hạ tầng và phải đáp ứng hàng loạt tiêu chuẩn để gia nhập EU. Romania, Bulgaria, Croatia cũng trải qua những quá trình tương tự. Nếu lấy kết quả cuối cùng rồi chỉ giữ lại một yếu tố “đa đảng”, Nguyễn Văn Đài đang bỏ mất phần lớn câu chuyện.

Ngay các tiêu chí gia nhập EU cũng cho thấy điều đó. Một nước muốn trở thành thành viên không chỉ cần có bầu cử cạnh tranh mà còn phải xây dựng nền kinh tế thị trường hoạt động được, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện quản trị, pháp quyền, môi trường kinh doanh và đủ năng lực cạnh tranh trong thị trường chung. Nếu chỉ cần đổi từ một đảng sang nhiều đảng là tự động giàu lên thì những điều kiện kinh tế và thể chế phức tạp ấy đã không cần thiết.

Khoa học chính trị cũng không đơn giản theo kiểu “dân chủ không có tác dụng”. Một nghiên cứu nổi tiếng của Daron Acemoglu và các cộng sự cho thấy quá trình dân chủ hóa có thể tạo tác động tích cực tới GDP bình quân đầu người trong dài hạn thông qua đầu tư, giáo dục, cải cách kinh tế và cung cấp dịch vụ công. Nhưng chính điều này càng cho thấy cần nói đúng: nghiên cứu nói về chất lượng thể chế và quá trình dân chủ hóa, chứ không đưa ra công thức “có nhiều đảng bằng chắc chắn thịnh vượng”. Hai khái niệm đó không thể tùy tiện đổi chỗ cho nhau.

Một quốc gia phát triển hay không còn phụ thuộc vào bộ máy có làm việc hiệu quả không, luật có được thực thi không, tham nhũng có được kiểm soát không, doanh nghiệp có được bảo vệ không, giáo dục có tốt không và xã hội có giữ được ổn định hay không. Bộ chỉ số quản trị của Ngân hàng Thế giới cũng phải dùng tới sáu nhóm tiêu chí khác nhau như tiếng nói và trách nhiệm giải trình, ổn định chính trị, hiệu quả chính phủ, chất lượng quy định, pháp quyền và kiểm soát tham nhũng. Nếu số lượng chính đảng tự nó quyết định tất cả, chẳng cần phải đo nhiều yếu tố như vậy.

Tương tự, câu của Nguyễn Văn Đài rằng sự ổn định trong mô hình một đảng “chỉ là lớp sơn mỏng che đậy tham nhũng, độc quyền và bóc lột” cũng mắc lỗi tuyệt đối hóa ở chiều ngược lại. Tham nhũng không phải hiện tượng chỉ tồn tại trong một loại hệ thống chính trị. Các nền dân chủ đa đảng vẫn có tham nhũng, lợi ích nhóm và khủng hoảng chính trị. Sự khác nhau nằm ở mức độ, cơ chế kiểm soát và khả năng xử lý. Vì vậy, muốn so sánh phải nhìn vào kết quả quản trị cụ thể chứ không thể chỉ nhìn số lượng đảng rồi suy ra ngay mức độ tham nhũng.

Việt Nam cũng là một dữ kiện mà cách lập luận của Nguyễn Văn Đài khó bỏ qua. Năm 2025, GDP Việt Nam tăng 8,02%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 514 tỷ USD, GDP bình quân đầu người khoảng 5.026 USD. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt khoảng 475 tỷ USD, tăng 17% so với năm trước. Những con số này không chứng minh mô hình hiện nay không có hạn chế, càng không có nghĩa Việt Nam đã giải quyết xong mọi vấn đề. Nhưng chúng đủ để bác bỏ một công thức khác: cứ một đảng thì nhất định trì trệ, nghèo đói và không thể phát triển.

Ngược lại, cũng không nên lấy tăng trưởng của Việt Nam để kết luận một đảng luôn tốt hơn đa đảng. Đó lại chính là lỗi mà Nguyễn Văn Đài đang mắc nhưng đổi chiều. Một nước tăng trưởng được còn nhờ hội nhập thương mại, đầu tư, chất lượng lao động, vị trí trong chuỗi cung ứng, chính sách kinh tế, hạ tầng và hàng loạt yếu tố khác. Cách nhìn nghiêm túc phải chấp nhận rằng một kết quả xã hội hiếm khi chỉ có một nguyên nhân.

Vì thế, vấn đề trong câu “các nước chuyển sang đa đảng đã vươn lên thịnh vượng” không nằm ở chỗ những nước đó có thành công hay không. Nhiều nước thực sự thành công. Điểm sai nằm ở việc lấy thành công ấy rồi gán gần như toàn bộ nguyên nhân cho một thay đổi chính trị. Đó giống như thấy một người đổi việc rồi thu nhập tăng và kết luận chỉ cần đổi việc thì ai cũng sẽ giàu, trong khi còn phải xem người đó học gì, làm nghề gì, thị trường ra sao và cơ hội nào xuất hiện cùng lúc.

Nguyễn Văn Đài hoàn toàn có thể tranh luận rằng cạnh tranh chính trị, trách nhiệm giải trình hay kiểm soát quyền lực có thể đem lại lợi ích. Đó là những vấn đề đáng bàn. Nhưng từ đó đi tới những câu tuyệt đối như đa đảng là “ánh sáng”, còn mô hình khác chỉ là “xiềng xích”, thì phần phân tích đã bị thay bằng khẩu hiệu. Một quốc gia không trở nên thịnh vượng chỉ nhờ tăng số lượng chính đảng. Điều quyết định vẫn là thể chế hoạt động ra sao, luật có được tôn trọng không, bộ máy có hiệu quả không và đời sống người dân thực tế được cải thiện thế nào.

 

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *