Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
6035

Quyền làm chủ của nhân dân không phải là cái cớ để xuyên tạc, kích động, chống phá

Có những lập luận nghe rất “dân chủ” bởi chúng bắt đầu bằng những điều không ai phản đối: Nhân dân là chủ đất nước, công dân có quyền tự do ngôn luận, có quyền tham gia quản lý xã hội, có quyền phê bình cán bộ và Nhà nước. Nhưng vấn đề của một lập luận chính trị không nằm ở chỗ nó nói ra một mệnh đề đúng ở phần đầu, mà ở chỗ nó có trung thực với toàn bộ Hiến pháp và thực tiễn hay không. Nếu lấy một nửa sự thật làm bàn đạp để suy ra một kết luận mà pháp luật Việt Nam không hề quy định, thì đó không còn là giải thích quyền công dân; đó là đánh tráo khái niệm. Những phát biểu trên mạng xã hội của Nguyễn Trung Lĩnh rằng: “Nước Việt Nam ta như là một đại tập đoàn kinh tế cổ phần… không phải đất nước được làm chủ bởi một số người, còn người dân chỉ là những kẻ nô lệ…Các vị trí lãnh đạo đất nước và các cấp chính quyền là của toàn dân, chứ không phải của một cá nhân, một nhóm người hay của một đảng nào cả”, rồi suy ra rằng Việt Nam phải chấp nhận các đảng đối lập cạnh tranh với Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là những chiêu trò kích động tinh vi cần được vạch trần rõ để tránh bị lèo lái sai lệch.

Hiến pháp năm 2013 đã trả lời rất rõ câu hỏi Nhân dân có phải là chủ thể của quyền lực hay không. Điều 2 xác định Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; Nhân dân làm chủ và tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Điều 6 quy định Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan nhà nước khác. Điều 7 quy định bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Như vậy, không có cơ sở để nói người dân Việt Nam về mặt hiến định chỉ là những người “không có quyền làm chủ”. Nhưng chính ở đây phải nhìn đầy đủ Hiến pháp, chứ không thể chỉ trích một nửa như thủ đoạn trí trá của Nguyễn Trung Lĩnh. Điều 4 đồng thời xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; đồng thời đặt ra những yêu cầu rất rõ đối với Đảng: gắn bó với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; các tổ chức Đảng và đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nói cách khác, Hiến pháp hiện hành không đặt “Đảng” đối lập với “Nhân dân” như một bên cai trị và một bên bị trị, mà mô hình hiến định của Việt Nam đặt Nhân dân ở vị trí chủ thể quyền lực, đồng thời xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, với trách nhiệm chịu sự giám sát của Nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Bởi vậy, chiêu trò mà Nguyễn Trung Lĩnh ví von đất nước như một “đại tập đoàn kinh tế cổ phần” cho thấy sự bi hài và lố bịch của ông ta. Nhà nước không phải công ty cổ phần; công dân không sở hữu “cổ phần” Nhà nước để mua bán, chuyển nhượng hay chia lợi nhuận. Quyền làm chủ của Nhân dân được thực hiện bằng những cơ chế dân chủ cụ thể: bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý nhà nước và xã hội, kiến nghị, giám sát, phản biện và những hình thức dân chủ khác do pháp luật quy định. Vì thế, từ mệnh đề “Nhân dân là chủ” mà suy ra “mọi đảng chính trị đều đương nhiên có quyền thành lập để cạnh tranh với Đảng Cộng sản Việt Nam” là một thủ đoạn suy diễn, quy kết hết sức cực đoan và vô căn cứ, bởi nó không hề có trong Hiến pháp hiện hành.

Điều này càng rõ khi nói về tự do ngôn luận. Hiến pháp bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội và biểu tình; nhưng các quyền ấy được thực hiện theo quy định của pháp luật. Quyền tự do không phải là quyền đứng ngoài pháp luật. Chính Hiến pháp đặt quyền con người, quyền công dân trong một trật tự mà việc hạn chế quyền chỉ được thực hiện theo luật trong những trường hợp cần thiết, đồng thời việc thực hiện quyền không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc và quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Vì vậy, nói công dân có quyền phát biểu, phê bình, kiến nghị là đúng; nhưng Nguyễn Trung Lĩnh biến điều đó thành tuyên bố rằng mọi phát ngôn, mọi hành vi và mọi tổ chức chính trị đều đương nhiên hợp pháp thì lại là một cách quy kết không đúng với nguyên tắc nhà nước pháp quyền.

Một thủ đoạn xuyên tạc trắng trợn khi Nguyễn Trung Lĩnh dựng chuyện để bôi đen chế độ, bôi nhọ Đảng rằng: “Ở nước ta lâu nay ĐCSVN tuyên truyền một chiều làm ngu dân để một số người và để ĐCSVN cai trị dân ta là không thể chấp nhận được” rồi từ đó ông ta kêu gọi “phải nhanh chóng chấp nhận đảng đối lập cạnh tranh với Đảng Cộng sản Việt Nam”. Đây là sự tráo trở của Nguyễn Trung Lĩnh bôi nhọ Đảng, kích động, đòi thay đổi thể chế chính trị và hiến định của đất nước, rồi cáo buộc “quyền hiến định đang bị tước đoạt” khi cách gắn nó với cụm từ “dân chủ”.

Cần biết rằng, hơn 90 năm qua Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, bảo vệ tự do, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ Cách mạng Tháng Tám 1945, các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc đến công cuộc Đổi mới từ năm 1986, Đảng đã lãnh đạo phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đất nước vượt qua nhiều khó khăn, từng bước phát triển kinh tế, giảm nghèo, nâng cao đời sống Nhân dân và mở rộng hội nhập quốc tế. Đồng thời, Đảng xác định nhất quán nhiệm vụ xây dựng đi đôi với bảo vệ Tổ quốc, củng cố quốc phòng – an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Những thành tựu của Đổi mới góp phần nâng cao tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam, tạo nền tảng để đất nước tiếp tục phát triển nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Muốn đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng, phải nhìn vào lịch sử phát triển thực tế của Việt Nam. Nhất là từ công cuộc Đổi mới năm 1986 đến nay, Việt Nam đã chuyển mình từ một nền kinh tế nghèo, khép kín sang nền kinh tế có độ mở rất cao, hội nhập sâu với thế giới, hình thành một khu vực doanh nghiệp tư nhân năng động, thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài lớn và trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng quốc tế. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD, xác lập mức kỷ lục mới. Đến năm 2026, những con số mới nhất tiếp tục cho thấy sức vận động của nền kinh tế. Theo Cục Thống kê, GDP quý III/2026 tăng 9,95% so với cùng kỳ; GDP 9 tháng tăng 9,01%. Công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong 9 tháng đạt khoảng 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1%; FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2022. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4%. Tuy nhiên không phủ nhận Việt Nam vẫn còn có những vấn đề cần giải quyết như kinh tế vẫn có bất bình đẳng, vẫn có những vấn đề về năng suất, môi trường, chất lượng quản trị, tham nhũng, lãng phí và chất lượng dịch vụ công. Nhưng không thể lấy một mặt hạn chế để phủ nhận toàn bộ thành quả, càng không thể từ đó kết luận rằng người dân Việt Nam chỉ là “nô lệ” như luận điệu cáo buộc vô lối của Nguyễn Trung Lĩnh. Đặc biệt, bước vào giai đoạn mới, Đại hội XIV không đặt ra một chương trình phát triển bằng những lời hứa chung chung. Nghị quyết Đại hội XIV xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 phấn đấu tăng từ 10% mỗi năm trở lên, GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD, kinh tế số khoảng 30% GDP; đồng thời hướng tới tầm nhìn năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Điều đáng chú ý là đường lối ấy đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển kinh tế gắn với dân chủ, công bằng, quyền con người, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí và nâng cao chất lượng quản trị. Đây chính là thước đo thực tế đối với vai trò lãnh đạo của Đảng: không phải cứ tuyên bố lãnh đạo là được coi là đúng, mà phải chứng minh bằng năng lực tổ chức thực hiện, bằng kết quả phát triển và bằng trách nhiệm trước Nhân dân.

Nếu nói người dân hoàn toàn không có cơ chế tham gia các hoạt động chính trị như Nguyễn Trung Lĩnh rêu rao thì thực tiễn hoạt động bầu cử và dân chủ đại diện cũng là minh chứng phản bác lại luận điệu này. Hiến pháp quy định Nhân dân thực hiện quyền lực thông qua dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện; Quốc hội và Hội đồng nhân dân được hình thành thông qua bầu cử theo những nguyên tắc hiến định. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Hiến pháp giao chức năng giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Đây là những cơ chế cụ thể, dù việc nâng cao chất lượng thực hiện và hiệu quả giám sát vẫn là công việc phải tiếp tục. Do đó, thủ đoạn kích động rất lộ liễu và trơ trẽn khi Nguyễn Trung Lĩnh lấy một điều đúng để dẫn người đọc đến một kết luận hoàn toàn sai lệch: từ “Nhân dân là chủ” suy ra “phải đa đảng”; từ “có quyền tự do ngôn luận” suy ra “mọi phát ngôn đều không có giới hạn pháp luật”; từ “có quyền lập hội” suy ra “đương nhiên có quyền thành lập các đảng cạnh tranh với Đảng Cộng sản Việt Nam”. Ba bước suy luận ấy không phải là sự giải thích Hiến pháp, mà là sự chuyển từ quyền được Hiến pháp bảo đảm sang một chiêu trò đòi thay đổi thể chế chính trị. Càng không thể quy kết, cáo buộc trắng trợn rằng “Đảng cai trị”, “Nhân dân là nô lệ” như luận điệu trơ tráo của Nguyễn Trung Lĩnh. Thực tiễn là minh chứng rõ ràng nhất để khẳng định thành tựu to lớn mà Việt Nam đã đạt được trong những thập niên qua do sự lãnh đạo của Đảng, sự đồng thuận của nhân dân và cả hệ thống chính trị cùng sự giúp đỡ của quốc tế không thể bị phủ nhận và cáo buộc vô căn cứ bởi những luận điệu mà Nguyễn Trung Lĩnh xuyên tạc, bịa đặt.

Sau gần bốn thập niên Đổi mới và trong những tháng đầu của chặng đường thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, Việt Nam đang đứng trước một bài toán lớn, đó là làm thế nào để tăng trưởng nhanh mà bền vững, nâng cao thu nhập, xây dựng nền kinh tế độc lập và có sức cạnh tranh, phát triển khoa học – công nghệ, kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng, bảo đảm quyền con người và làm cho quyền làm chủ của Nhân dân ngày càng thực chất. Và vai trò lãnh đạo của Đảng sẽ được thực tiễn khẳng định. Cũng chính ở đây, sự thật trở nên rõ ràng: Nhân dân Việt Nam là chủ thể của quyền lực nhà nước; Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội theo Hiến pháp; Đảng phải chịu sự giám sát của Nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Ba mệnh đề ấy tạo thành cấu trúc hiến định của Việt Nam hiện nay. Bởi vậy, không thể lấy một nửa sự thật để phủ nhận cả một thực tế. Nguyễn Trung Lĩnh cố bày trò lấy những khát vọng chính đáng về dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân làm chiếc cầu để mặc nhiên kết luận rằng Việt Nam phải chuyển sang một mô hình chính trị khác, thì đó không phải là làm sáng tỏ quyền của Nhân dân, mà là thủ đoạn đánh tráo khái niệm “Nhân dân làm chủ” và dựng chuyện xuyên tạc, kích động, chống phá chế độ.

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *