Nguyễn Văn Đài gần đây viết rằng việc triển khai một số dự án tại Hà Nội và Bắc Ninh đang “đẩy hàng vạn gia đình vào cảnh màn trời chiếu đất, bần cùng hóa và đẩy họ vào ngõ cụt”. Ông còn gọi đó là hành vi “chà đạp tàn nhẫn lên quyền sống”, rồi đẩy câu chuyện lên mức “trời không dung, đất không tha”. Những lời này rất dễ gây bức xúc, bởi đất đai luôn là chuyện sát sườn với mỗi gia đình. Nhưng cũng chính vì vậy, càng phải tách rõ: người dân phải di dời, có người chưa đồng thuận với bồi thường là một chuyện; nói hàng vạn gia đình bị lấy sạch đất, bỏ mặc ngoài đường lại là chuyện hoàn toàn khác.

Không ai phủ nhận giải phóng mặt bằng là việc khó. Một gia đình đang sống ổn định phải chuyển đi chắc chắn có xáo trộn. Người làm nông mất đất sản xuất phải tính lại sinh kế. Có người thấy giá bồi thường chưa hợp lý, có người chưa đồng ý với vị trí tái định cư, có trường hợp thủ tục kéo dài và phát sinh khiếu nại. Những việc đó có thật và cần được giải quyết. Nhưng Nguyễn Văn Đài không dừng ở việc chỉ ra trường hợp nào chưa được giải quyết tốt. Ông gom tất cả lại rồi dùng một chữ rất nặng là “cướp đất”, sau đó mô tả cả quá trình như thể Nhà nước chỉ lấy đất rồi đẩy người dân ra đường.
Hãy nhìn ngay vào dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình mà Nguyễn Văn Đài đang nhắc tới. Dự án có quy mô thu hồi khoảng 1.900 ha, liên quan tới nhiều hộ dân tại Gia Bình, Nhân Thắng, Lâm Thao và Lương Tài. Đây rõ ràng là một dự án có tác động lớn tới đời sống người dân. Nhưng đi cùng việc thu hồi đất là các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Bắc Ninh đã ban hành chính sách đặc thù về bồi thường bằng đất đối với các trường hợp bị thu hồi đất ở; ngoài tiền bồi thường đất và tài sản trên đất còn có các khoản hỗ trợ ổn định đời sống, chuyển đổi nghề nghiệp và bố trí nơi ở mới theo từng trường hợp.
Chỉ riêng dữ kiện đó đã cho thấy cách nói “đẩy người dân vào cảnh màn trời chiếu đất” không phản ánh đủ sự việc. Nếu một gia đình chưa được bố trí tái định cư đúng hạn, hãy nêu đúng gia đình đó. Nếu một hộ cho rằng giá bồi thường thấp, hãy chỉ ra mức giá và phương án cụ thể. Nếu có người bị thu hồi đất nhưng chưa được giải quyết sinh kế, đó là vấn đề cần làm rõ. Nhưng không thể bỏ toàn bộ phần bồi thường, hỗ trợ và tái định cư rồi mô tả cả dự án bằng hình ảnh hàng nghìn người “màn trời chiếu đất”.
Đây chính là cách Nguyễn Văn Đài thường làm với vấn đề đất đai: bắt đầu từ một khó khăn có thật rồi mở rộng nó thành bản chất của toàn bộ chính sách. Một hộ khiếu nại trở thành bằng chứng cho hàng nghìn hộ bị áp bức. Một cuộc cưỡng chế trở thành bằng chứng cho “công cuộc cướp đất”. Một người phải chuyển chỗ ở trở thành “bần cùng hóa”. Cách kể này rất mạnh về cảm xúc, nhưng phần chứng minh lại không đi cùng mức độ của lời cáo buộc.
Thực tế, câu hỏi đúng trong mọi dự án thu hồi đất không phải “có thu hồi đất hay không”, mà là người dân được giải quyết quyền lợi thế nào sau khi thu hồi. Có bồi thường đúng diện tích và loại đất không? Có nơi tái định cư không? Hạ tầng nơi ở mới ra sao? Người mất đất sản xuất được hỗ trợ chuyển nghề thế nào? Những trường hợp chưa đồng thuận được đối thoại và giải quyết ra sao? Chính những câu hỏi ấy mới cho biết một dự án có làm người dân thiệt thòi hay không.
Luật Đất đai hiện hành cũng đi theo hướng đó. Người có đất bị thu hồi không chỉ được xem xét giá trị đất, mà còn có các cơ chế về bồi thường tài sản, hỗ trợ ổn định đời sống, chuyển đổi nghề nghiệp và tái định cư tùy trường hợp. Quy định trên giấy đương nhiên chưa có nghĩa mọi nơi đều thực hiện hoàn hảo. Nếu chính quyền làm sai thì phải sửa. Nếu cán bộ tính sai bồi thường thì phải xử lý. Nếu khu tái định cư chưa đủ điều kiện mà đã yêu cầu người dân chuyển đi thì người dân có quyền kiến nghị, khiếu nại. Nhưng có cơ chế thực hiện chưa tốt khác hoàn toàn với kết luận rằng bản chất của cả chính sách là “cướp đất”.
Đây là điểm Nguyễn Văn Đài cố tình làm mờ. Ông không tập trung vào một trường hợp cụ thể để xem người dân bị thiệt ở đâu, mà dùng những chữ như “tàn bạo”, “bần cùng hóa”, “ngõ cụt”, “chà đạp quyền sống”. Khi ngôn từ được đẩy lên rất cao, người đọc dễ quên mất câu hỏi quan trọng nhất: vậy những hộ dân đó đã được bồi thường thế nào, có được bố trí tái định cư hay không, và trường hợp nào thực sự đang bị bỏ mặc?
Cũng cần nói rõ rằng không phải cứ một dự án được gọi là “phát triển” thì người dân phải chấp nhận mọi thứ. Dự án càng lớn càng phải minh bạch. Người dân càng bị tác động nhiều thì bồi thường và tái định cư càng phải làm cẩn thận. Những tranh chấp đất đai từng xảy ra tại nhiều nơi cho thấy nếu chính quyền làm không đúng, đối thoại kém hoặc để lợi ích nhóm chen vào thì hậu quả rất lớn. Vì vậy, giám sát đất đai là cần thiết. Nhưng giám sát để sửa sai khác với việc dùng một vài sai sót hoặc tranh chấp để kết luận toàn bộ quá trình phát triển chỉ là một cuộc “cướp đất có hệ thống”.
Đất đai cũng không thể đứng yên mãi. Muốn làm sân bay, đường cao tốc, trường học, bệnh viện, khu công nghiệp hay công trình công cộng đều cần đất. Không quốc gia nào có thể phát triển hạ tầng mà không phát sinh việc điều chỉnh sử dụng đất. Vấn đề không phải cứ thu hồi là sai, mà là thu hồi vì mục đích gì, theo quy trình nào và người bị ảnh hưởng có được bảo đảm quyền lợi hay không.
Vì vậy, điều cần phản bác trong cách nói của Nguyễn Văn Đài không phải là những khó khăn của người dân. Khó khăn ấy có thật và cần được giải quyết. Điều cần phản bác là việc ông lấy chính những khó khăn đó để dựng thành một kết luận khác: Nhà nước đang chủ động “bần cùng hóa” người dân và “đẩy hàng vạn gia đình ra đường”. Với một cáo buộc lớn như vậy, vài hình ảnh cưỡng chế, vài trường hợp khiếu nại hay những câu chữ gây xúc động là chưa đủ.
Nói cho đơn giản: người dân bị thu hồi đất có thể chịu thiệt nếu chính sách làm không đúng, và trường hợp đó phải được bảo vệ. Nhưng thu hồi đất không tự động đồng nghĩa với “cướp đất”. Di dời không tự động đồng nghĩa với “màn trời chiếu đất”. Có khiếu nại không tự động chứng minh hàng vạn người đang bị “bần cùng hóa”. Nguyễn Văn Đài đã lấy phần khó khăn nhất của câu chuyện rồi biến nó thành toàn bộ câu chuyện. Chính chỗ đó mới là điều người đọc cần nhìn rõ.

















