Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
1620

Quy định 224-QĐ/TW: Không thể đánh đồng quyền kinh doanh với lợi dụng quyền lực

Một chính sách mở rộng quyền kinh doanh không đồng nghĩa với việc trao quyền sử dụng chức vụ để trục lợi. Nguy cơ xung đột lợi ích đòi hỏi phải tăng cường kiểm soát, chứ không phải là căn cứ để mặc nhiên phủ nhận quyền kinh doanh hợp pháp.

Từ khi Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quy định số 224-QĐ/TW ngày 14/10/2026 về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh, đã xuất hiện cách diễn giải cho rằng văn bản này “hợp thức hóa việc vừa đá bóng vừa thổi còi”. Lo ngại về xung đột lợi ích là có cơ sở, nhưng từ nguy cơ đến kết luận chính sách tất yếu dẫn đến trục lợi là một bước suy diễn cần được xem xét thận trọng. Vấn đề cốt lõi không chỉ là đảng viên có được kinh doanh hay không, mà là quyền ấy được thực hiện trong giới hạn nào và chịu sự kiểm soát ra sao.

Trong nền kinh tế thị trường, quyền sở hữu tài sản, góp vốn và đầu tư hợp pháp không đồng nhất với quyền sử dụng chức vụ để tạo lợi thế kinh doanh. Một cá nhân có thể tham gia hoạt động kinh tế theo quy định, nhưng không vì thế mà được phép tác động trái pháp luật đến việc ban hành chính sách, phân bổ nguồn lực, lựa chọn nhà thầu hoặc giải quyết thủ tục hành chính nhằm phục vụ lợi ích riêng. Vì vậy, đánh đồng quyền kinh doanh với hành vi lạm dụng quyền lực là đơn giản hóa vấn đề; nhưng coi việc ban hành quy định là đủ để loại bỏ mọi nguy cơ cũng không phù hợp với thực tiễn quản trị.

Quy định số 224-QĐ/TW cần được nhìn nhận trong mối quan hệ giữa yêu cầu phát huy nguồn lực phát triển và trách nhiệm bảo đảm liêm chính. Những nguyên tắc về tuân thủ pháp luật, thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và xã hội, không sử dụng trái quy định tài sản, thông tin, dữ liệu, nhân lực và nguồn lực công để phục vụ lợi ích kinh doanh riêng có ý nghĩa quan trọng. Đối với người giữ chức vụ quản lý, việc xác định giới hạn đầu tư theo chức trách, nhiệm vụ và phạm vi quyền hạn là một yêu cầu thiết yếu để phòng ngừa xung đột lợi ích.

Do đó, không thể từ việc một số đảng viên được phép đầu tư mà suy rộng rằng mọi cán bộ có quyền lực đều được tự do kinh doanh trong lĩnh vực mình quản lý. Quyền và giới hạn cần được xem xét theo vị trí công tác, mức độ ảnh hưởng đến quyết định công và nguy cơ phát sinh lợi ích riêng. Cách tiếp cận hợp lý không phải là cấm đoán đồng loạt hay cho phép không giới hạn, mà là xác định đúng ranh giới giữa hoạt động kinh tế chính đáng và hành vi lợi dụng quyền lực.

Điều quan trọng hơn cả là kiểm soát xung đột lợi ích trên thực chất. Không thể chỉ căn cứ vào tên người đứng trên giấy tờ sở hữu để xác định ai là người hưởng lợi. Một cá nhân không trực tiếp đứng tên doanh nghiệp nhưng có lợi ích kinh tế gắn với quyết định công vụ của mình vẫn có thể tạo ra xung đột lợi ích. Ngược lại, việc một đảng viên sở hữu tài sản hoặc tham gia đầu tư không tự nó chứng minh có hành vi trục lợi. Điều cần xem xét là mối liên hệ giữa lợi ích riêng, quyền hạn được giao, hành vi thực tế và mức độ tuân thủ các giới hạn pháp lý.

Chẳng hạn, nếu một người có trách nhiệm tham gia quyết định lựa chọn nhà thầu nhưng đồng thời có lợi ích kinh tế liên quan đến doanh nghiệp dự thầu, vấn đề không nằm ở quyền sở hữu tài sản nói chung, mà ở nguy cơ quyền công bị sử dụng để tạo lợi thế cho lợi ích tư. Khi đó, việc nhận diện, báo cáo và xử lý xung đột lợi ích, cùng cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình, có ý nghĩa quyết định. Đây cũng là lý do không thể chỉ nhìn vào hình thức sở hữu, mà phải xem xét bản chất quan hệ lợi ích và khả năng chi phối quyết định công.

Quy định 224-QĐ/TW hướng tới việc tạo điều kiện để đảng viên làm giàu hợp pháp, chính đáng, đồng thời đặt hoạt động đầu tư, kinh doanh trong khuôn khổ trách nhiệm và những giới hạn cần thiết. Định hướng ấy chỉ có thể phát huy giá trị khi gắn với môi trường cạnh tranh bình đẳng, nơi không ai được dùng thông tin nội bộ chưa công khai, nguồn lực công hay quan hệ công vụ để giành lợi thế bất chính. Phát huy nguồn lực kinh doanh và giữ vững liêm chính công vụ không phải hai mục tiêu đối lập, mà là hai điều kiện cần được thực hiện song hành.

Tuy nhiên, hiệu quả của một quy định không chỉ được quyết định bởi nội dung văn bản, mà còn bởi chất lượng thực thi. Cần nhận diện đúng những vị trí có nguy cơ cao, thực hiện nghiêm nghĩa vụ báo cáo, kiểm soát lợi ích của người có liên quan, tăng cường giám sát và xử lý minh bạch các vi phạm. Nếu thiếu kiểm tra thực chất và trách nhiệm giải trình, những nguyên tắc đúng đắn vẫn có thể không đạt được hiệu quả như mong muốn.

Vì vậy, dư luận có quyền đặt câu hỏi, giám sát và yêu cầu làm rõ nguy cơ xung đột lợi ích. Nhưng đánh giá một chính sách cần dựa trên nội dung quy định, phạm vi áp dụng và kết quả thực thi, thay vì chỉ dựa vào một phép so sánh mang tính hình tượng. Cũng không thể vì mục tiêu khuyến khích kinh doanh mà xem nhẹ nguy cơ lạm quyền.

Không thể lấy nguy cơ lạm dụng quyền lực để phủ nhận quyền kinh doanh hợp pháp; càng không thể lấy quyền kinh doanh để biện minh cho sự lạm dụng quyền lực. Giá trị thực chất của Quy định 224-QĐ/TW phải được thể hiện ở khả năng vừa khơi thông nguồn lực đầu tư, vừa giữ vững ranh giới giữa lợi ích tư nhân và trách nhiệm công. Quyền kinh doanh chỉ thực sự được bảo vệ khi đi cùng cạnh tranh công bằng; quyền lực công chỉ thực sự được bảo đảm tính chính đáng khi được thực thi trong giới hạn, dưới sự giám sát và gắn với trách nhiệm giải trình.

Nguồn: https://ivanlevanlan.wordpress.com/

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *