Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
1716

Phản bác luận điệu xuyên tạc hiệp định Việt Nam – EFTA

Ngay sau khi Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Hiệp hội Mậu dịch Tự do Châu Âu (EFTA) được ký tại Hà Nội ngày 18/10/2026, một số tài khoản trên không gian mạng đã vội đăng tải quan điểm cho rằng Việt Nam hao tổn thời gian, công sức suốt 14 năm chỉ để ký với một khối bốn nước, thay vì Liên minh châu Âu (EU) rộng lớn và rằng một thị trường khoảng 15 triệu dân thì chẳng mang lại giá trị gì. Cách nói ấy dễ thu hút vì chỉ dựa vào những con số dễ đếm là số nước và số dân. Nhưng khi đặt cạnh số liệu thương mại, nội dung hiệp định và lợi ích thực tế của doanh nghiệp, luận điệu ấy lộ rõ sự phiến diện, thậm chí xuyên tạc bản chất của một thỏa thuận kinh tế có lợi cho Việt Nam.

Lấy số nước và số dân làm thước đo giá trị của một thị trường là cách đo thiếu căn cứ. Giá trị của thị trường nằm ở sức mua, nhu cầu nhập khẩu, độ ổn định và khả năng bổ trợ cho nền sản xuất của đối tác. EFTA gồm Iceland, Liechtenstein, Na Uy và Thụy Sĩ, tuy chỉ có khoảng 15 triệu dân nhưng nhập khẩu hàng hóa khoảng 630 tỷ USD mỗi năm; đều là những nền kinh tế có thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm cao nhất thế giới, với người tiêu dùng khắt khe về chất lượng, tiêu chuẩn và tính bền vững. Một thị trường nhỏ về dân số nhưng lớn về sức mua và yêu cầu cao về chất lượng không thể bị coi là vô giá trị.

Thực tế thương mại đã trả lời rõ hơn mọi so sánh về quy mô. Năm 2025, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và bốn nước EFTA đạt khoảng 4,8 tỷ euro, chưa tính thương mại vàng của Thụy Sĩ. Trong đó Việt Nam xuất siêu khoảng 2,5 tỷ euro, gấp năm lần mức 0,5 tỷ euro của một thập kỷ trước. Máy móc thiết bị điện, giày dép, hàng may mặc và máy móc cơ khí là những nhóm hàng EFTA nhập từ Việt Nam nhiều nhất và các nhóm này đều tăng trưởng bình quân trên 10% mỗi năm trong mười năm qua. Điều đáng chú ý là mức tăng ấy đạt được khi hai bên chưa có hiệp định thương mại tự do song phương. Một thị trường bị cho là chẳng đem lại giá trị gì khó có thể tạo ra kết quả như vậy.

Giá trị của EFTA còn nằm ở vốn đầu tư và công nghệ. Đến ngày 30/9/2026, Thụy Sĩ có 247 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký khoảng 2,5 tỷ USD, xếp thứ 20 trong 154 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Na Uy cũng có hơn 60 dự án với vốn đăng ký hơn 201 triệu USD tính đến cuối năm 2025. Thế mạnh của khối này ở cơ khí chính xác, tự động hóa, thiết bị y tế, năng lượng sạch và nuôi trồng thủy sản trùng với những lĩnh vực Việt Nam đang cần để nâng cấp công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nghề và chuyển đổi xanh. Hai nền kinh tế vì thế bổ trợ cho nhau: một bên có công nghệ, tiêu chuẩn và năng lực quản trị, bên kia có năng lực sản xuất, nguồn nhân lực và vị trí kết nối với ASEAN.

Nội dung hiệp định cũng cho thấy đây không phải thỏa thuận cắt giảm thuế đơn thuần. Hiệp định bao trùm hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và phát triển bền vững. Khi hiệp định có hiệu lực, các nước EFTA cam kết duy trì việc xóa bỏ toàn bộ thuế nhập khẩu đối với hàng công nghiệp và thủy sản có xuất xứ từ Việt Nam. Về phần mình, Việt Nam mở cửa theo lộ trình, tối đa 11 năm với phần lớn hàng công nghiệp và thủy sản của EFTA, tối đa 16 năm với phô mai, cà phê, sô cô la, để doanh nghiệp trong nước có thời gian thích ứng. Với nông sản, ưu đãi dựa trên lợi ích và mức độ nhạy cảm riêng của mỗi bên, nên đây không phải tấm vé miễn thuế cho mọi mặt hàng. Quy tắc xuất xứ cho phép cộng gộp nguyên liệu từ một số nước ASEAN hoặc từ EU đối với hàng phi nông sản, giúp doanh nghiệp Việt linh hoạt hơn trong chuỗi cung ứng.

Càng không có cơ sở để dựng EFTA đối lập với EU như thể chọn bên này là bỏ bên kia. Việt Nam đã có Hiệp định EVFTA với EU và hiệp định VEFTA với EFTA là bước mở thêm các thị trường châu Âu nằm ngoài EU, chứ không thay thế hay làm suy yếu những gì đã có. Đại sứ Thụy Sĩ tại Việt Nam cũng nhận xét rằng cả hai phía đều có mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng, song cho đến nay chưa có hiệp định song phương nào giữa họ. Quy tắc cộng gộp xuất xứ với nguyên liệu từ EU là minh chứng rõ rằng hai khuôn khổ này bổ sung cho nhau, không loại trừ nhau. Với một nền kinh tế mở cần đa dạng hóa thị trường, đây là thêm một lựa chọn, không phải một sự đánh đổi.

Còn về con số “14 năm” bị đem ra để chê bai, cần nhìn đúng diễn biến. Đàm phán khởi động ngày 02/7/2012 tại Hà Nội, trải qua 16 vòng đến năm 2018 thì chậm lại do thiếu tiến triển, rồi được nối lại ngày 08/9/2025 và chỉ qua năm vòng đã kết thúc ngày 02/7/2026, tức là chưa đầy mười tháng. Một hiệp định toàn diện, đàm phán cùng lúc với bốn đối tác trên rất nhiều lĩnh vực, chỉ hoàn tất khi các bên cùng sẵn sàng. Thời gian đàm phán dài hay ngắn không quyết định giá trị của hiệp định, điều quyết định là nội dung đạt được và cách tận dụng sau khi có hiệu lực.

Dĩ nhiên, hiệp định mới ký, các bên còn phải hoàn tất phê chuẩn và mục tiêu đặt ra là hiệp định có hiệu lực từ đầu năm 2027. Lợi ích chỉ thành hiện thực khi doanh nghiệp nắm vững quy tắc xuất xứ, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường và cơ quan quản lý thực thi đầy đủ các cam kết. Như Bộ trưởng Bộ Công Thương nhấn mạnh, giá trị của hiệp định không đo bằng số dòng thuế được cắt giảm mà bằng số dự án được triển khai. Phản biện thẳng thắn về cách tận dụng cơ hội là điều cần thiết, nhưng dùng số nước và số dân để phủ nhận giá trị của hiệp định thì không còn là phản biện mà là xuyên tạc. Bốn nước, khoảng 15 triệu dân, nhưng cùng với 4,8 tỷ euro kim ngạch, hàng tỷ USD vốn đầu tư, công nghệ nguồn và những cánh cửa thị trường mới, EFTA xứng đáng là một đối tác quan trọng của Việt Nam.

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *