Lý giải sự suy thoái toàn cầu của dân chủ hiện nay

Lý giải sự suy thoái toàn cầu của dân chủ hiện nay

Lý giải sự suy thoái toàn cầu của dân chủ hiện nay. BBT xin giới thiệu bản dịch bài viết “Nền dân chủ đang chết” của Larry Diamond là Giáo sư Khoa học Chính trị và Xã hội học tại Đại học Stanford, đồng thời là tác giả của nhiều bài viết, tài liệu xem như “cẩm nang” hướng dẫn về lý thuyết, kỹ năng hoạt động, đấu tranh đối với các cuộc “cách mạng dân chủ” trên thế giới hay giới “đấu tranh dân chủ” Việt Nam như Nguyễn Quang A, Phạm Thị Đoan Trang… Tuy là góc nhìn của fan cuồng, người miệt mài cổ súy các cách mạng dân chủ và sự can thiệp dân chủ của Mỹ khắp thế giới, nhưng qua bài viết này của ông cho thấy, ông ta và những chuyên gia zân chủ của Mỹ đã nhìn ra sự sụp để của học thuyết dân chủ giúp Mỹ thao túng thế giới. Tuy còn mang tính lấp liếm, bào chữa nhưng đủ để giúp người đọc nhận thấy rõ nguyên nhân khiến Nền chủ đang chết do chính tính hai mặt khi sử dụng công cụ này thao túng thế giới của Mỹ

Lý giải sự suy thoái toàn cầu của dân chủ hiện nay
Lý giải sự suy thoái toàn cầu của dân chủ hiện nay

===

Trong ba thập niên kể từ giữa những năm 1970, thế giới chứng kiến một làn sóng mở rộng dân chủ đầy ấn tượng – thường được gọi là “làn sóng thứ ba” – với việc nhiều chế độ chuyên chế bị sụp đổ hay phải cải tổ lại. Đến năm 1993, phần lớn các nước với dân số trên 1 triệu người đã trở thành các quôc gia dân chủ. Mức độ tự do, theo Freedom House, cũng dần tăng. Trong phần lớn các năm từ 1991 đến 2005, có nhiều quốc gia giành được tự do hơn là mất tự do.

Song vào khoảng năm 2006, đà tiến lên của dân chủ bị chững lại. Mỗi năm kể từ 2007, trái ngược với xu thế hậu Chiến tranh Lạnh trước đó, nhiều quốc gia chứng kiến tự do của họ suy giảm hơn là tăng. Pháp quyền bị giáng một đòn nặng, đặc biệt là ở châu Phi và các nước hậu cộng sản; tự do dân sự và các quyền bầu cử cũng đồng thời suy thoái.

Vấn đề không chỉ có thế, dân chủ đang “hết thời” ở các nước lớn và có tầm quan trọng chiến lược. Đơn cử, Tổng thống Nga Putin từ lâu đã dùng các quyền mà các cuộc bầu cử trao cho ông để phá hủy nền dân chủ Nga. Gần đây hơn, Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan cũng đi theo con đường tương tự. Tại một số nước, các quan chức dân cử trở thành những kẻ đảm nhiệm chính công việc phá hoại dân chủ; trong khi ở các nước khác thì quân đội đóng vai trò này. Các tướng lĩnh đã bắt đầu nắm quyền lãnh đạo chính phủ ở Ai Cập vào năm 2013 và ở Thái Lan vào năm 2014, trong khi tiếp tục củng cố quyền lực thực tế ở Myanmar và Pakistan. Còn ở châu Phi, xu thế chung là các nhà độc tài dân cử, như Tổng thống Kenya Uhuru Kenyatta hay Tổng thống Tanzania John Magufuli, thao túng các cuộc bầu cử, làm suy yếu các tổ chức độc lập, quấy rối các nhà bất đồng chính kiến và các đối thủ chính trị nhằm củng cố quyền lực.

Đáng lo ngại hơn là làn sóng chủ nghĩa dân túy phi tự do đang quét qua nhiều quốc gia phát triển cũng như đang phát triển, thường là nhằm phản ứng lại trước những lo ngại về nhập cư và sự đa dạng văn hóa đang lên. Tiếng chuông báo hiệu cho xu thế này chính là Thủ tướng Hungary Viktor Orban, người chịu trách nhiệm cho cái chết đầu tiên của một nền dân chủ thuộc EU. Xu hướng tương tự cũng đang diễn ra ở Brazil, Philippines, và Ba Lan. Các đảng mang tư tưởng phi tự do và bài ngoại đang thu được nhiều thắng lợi chính trị ở các nền dân chủ châu Âu đáng kính như Đan Mạch, Đức, Hà Lan và Thụy Điển; một đảng như vậy thậm chí còn đưa được người của mình trở thành ứng cử viên chính cho ghế Tổng thống Pháp (bà Le Pen); và một đảng khác nữa thì đang chia sẻ quyền lực ở Italy. Còn ở Mỹ, một lãnh đạo dân túy phi tự do đang ngự trong Nhà Trắng.

Vẫn còn đó những tia hi vọng ở Ethiopia, Malaysia, và Nigeria, và dù gặp nhiều khó khăn, dân chủ cũng đang đến với Tunisia và Ukraine. Song nhìn tổng thể, xu thế chung là rất đáng lo ngại. Đã 12 năm kể từ khi cuộc suy thoái dân chủ bắt đầu, song không những không có dấu hiệu kết thúc, đà suy thoái này còn đang diễn ra nhanh hơn.

25 năm trước, sự lan rộng của dân chủ dường như rất được đảm bảo, và một mục tiêu quan trọng của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ chính là đẩy nhanh tiến trình này – dưới cái tên “mở rộng dân chủ” (democratic enlargement) trong những năm 1990 và “thúc đẩy dân chủ” (democratic promotion) vào thập niên đầu của thế kỷ này. Vậy vấn đề nằm ở đâu? Nói ngắn gọn thì dân chủ đã mất đi ngọn cờ tiên phong. Các cuộc can thiệp thảm họa của Hoa Kỳ ở Trung Đông khiến cho người Mỹ mất lòng tin vào “thúc đẩy dân chủ”, trong khi đó những lo ngại về suy giảm dân chủ và các vấn đề kinh tế trong nước buộc người Mỹ phải hướng nội hơn. Ngày nay, Hoa Kỳ nhìn chung đang dần rút lui khỏi vai trò lãnh đạo toàn cầu, vô hình trung để lại chỗ trống cho các cường quốc chuyên chế như Trung Quốc, kẻ đang hướng đến vị thế siêu cường, và Nga, quốc gia đang khôi phục sức mạnh quân sự và tham vọng địa chính trị của mình.

Sau cùng, đà suy thoái dân chủ chỉ có thể bị đảo ngược nếu nước Mỹ, một lần nữa, đảm trách nhiệm vụ “thúc đẩy dân chủ”. Để làm vậy, họ sẽ phải cạnh tranh quyết liệt hơn hẳn với Nga, Trung nhằm phổ biến các tư tưởng và giá trị dân chủ phi chuyên chế. Nhưng trước khi điều đó có thể xảy ra, họ phải sửa chữa nền dân chủ đang đổ vỡ của chính mình.

Người Mỹ hướng nội

 

Một bước thụt lùi nhỏ trong công cuộc dân chủ hóa toàn cầu đầy ấn tượng là khó tránh khỏi. Trong nửa sau của “làn sóng thứ ba”, dân chủ lan rộng đến nhiều nước ở châu Phi, châu Á, và Đông Âu vốn không có những điều kiện thuận lợi điển hình cho tự do: một nền kinh tế phát triển, giáo dục bậc cao, tầng lớp trung lưu lớn, các doanh nghiệp tư nhân, khu vực láng giềng ổn định, và có trải nghiệm trước đó về dân chủ. Nhưng sự suy thoái của dân chủ ngày một nghiêm trọng và kéo dài không chỉ là một dao động nhẹ trên biểu đồ. Có gì đó khác biệt một cách cơ bản về thế giới hôm nay.

Chiến tranh Iraq (2003) là một bước ngoặt mở đầu. Một khi người ta phát hiện ra rằng Sadam Hussein không hề sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt, “chương trình nghị sự tự do” (freedom agenda) của chính quyền Bush trở thành lựa chọn duy nhất để tạo cơ sở pháp lý cho cuộc chiến. Mọi ủng hộ trước đó của công luận Mỹ đối với cuộc can thiệp tan biến khi Iraq rơi vào bạo lực và hỗn loạn.  Nếu đây là “thúc đẩy dân chủ”, phần đông người Mỹ sẽ chẳng muốn nó.

Một chuỗi các cú sốc lớn khác càng làm tăng thêm thái độ thận trọng của công luận Mỹ. Ở khắp Trung Đông, lời cam kết hậu thuẫn cho những ai đứng lên vì tự do của Tổng thống Bush (con) trở nên rỗng tuếch. Chẳng hạn như ở Ai Cập, chính quyền Bush chẳng làm gì khi đồng minh của họ, Tổng thống Hosni Mubarak, tăng cường đàn áp chính trị trong và sau cuộc bầu cử 2005. Vào tháng 1 năm 2006, Chính quyền Palestine tổ chức các cuộc bầu cử dân chủ, một phần là vì các áp lực từ phía Mỹ, dẫn đến chiến thắng bất ngờ của phiến quân Hamas. Tiếp theo, trong nhiệm kì tổng thống của Obama, “Mùa Xuân Arab” đến và đi, để lại chỉ duy nhất một nền dân chủ Tunisia, và cùng với đó là một chuỗi những đảo lộn, đàn áp và sự sụp đổ nhà nước từ bên trong ở phần còn lại của Trung Đông.

Do những sai lầm và thất bại này, người Mỹ không còn nhiệt huyết với “thúc đẩy dân chủ” nữa. Vào tháng 9 năm 2001, 29% người Mỹ được phỏng vấn cho rằng “thúc đẩy dân chủ” nên là chính sách ngoại giao hàng đầu, theo Trung tâm Nghiên cứu Pew. Con số đó giảm xuống chỉ còn 18% vào năm 2013 và 17% năm 2017. Theo một khảo sát vào năm 2018 của Freedom House, Viện George W.Bush, và Trung tâm Penn Biden, 7 trên 10 người Mỹ vẫn ủng hộ các nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm thúc đẩy dân chủ và nhân quyền, song phần lớn dân Mỹ cũng bộc lộ hoài nghi đối với các cuộc can thiệp ở nước ngoài mà có thể sẽ rút cạn tài lực Mỹ, như Việt Nam và Iraq.

Quan trọng hơn, người Mỹ đã thể hiện sự quan tâm đối với tình hình không mấy khả quan của chính nền dân chủ của họ, với 2 phần 3 cho rằng đang “suy thoái”. Những người được khảo sát thể hiện sự lo lắng về những vấn đề của bản thân xã hội Mỹ – với các tài phiệt tham gia chính trị, phân biệt chủng tộc, và bế tắc chính trị đứng đầu danh sách. Trên thực tế, một nửa số người được khảo sát tin rằng Mỹ đã có “nguy cơ trở thành một quốc gia phi dân chủ và chuyên chế”.

Những bi quan về tình trạng nền dân chủ Mỹ càng được củng cố bởi tình hình kinh tế ảm đạm. Cuộc khủng hoảng tài chính 2008, gần như đưa cả thế giới vào một cuộc suy thoái, đã khiến cho người Mỹ bị sốc. Bất bình đẳng kinh tế ở Mỹ, vốn đã tệ hơn nhiều so với các nền dân chủ tiến bộ khác, cũng đang tăng lên. Và “giấc mơ Mỹ” cũng bị ảnh hưởng mạnh: chỉ một nửa số người sinh trong thập niên 1980 đang kiếm nhiều tiền hơn bố mẹ họ lúc bằng tuổi họ; trong khi 92% những người sinh trong thập niên 1940 lúc khoảng 30 tuổi đã kiếm được nhiều tiền hơn bố mẹ lúc bằng tuổi họ. Người Mỹ đang mất niềm tin vào tương lai của chính mình, của đất nước, và vào khả năng thay đổi tình hình của các nhà lãnh đạo.

Cảm thức về một nước Mỹ suy thoái đang lan rộng – và dĩ nhiên không chỉ trong nội bộ người Mỹ. Vị thế quốc tế của Hoa Kỳ đã sụt giảm nghiêm trọng kể từ sau lễ nhậm chức của Tổng thống Donald Trump. Trong số 37 quốc gia được khảo sát vào năm 2017, tỉ lệ trung bình những người có cái nhìn thiện cảm với Mỹ giảm chỉ còn 49%, từ 64% vào cuối nhiệm kỳ của Obama. Sẽ rất khó khăn cho Mỹ để thúc đẩy dân chủ ở hải ngoại khi mà các nước khác – và cả người dân Mỹ – đang mất niềm tin vào mô hình Mỹ. Sự rút lui của Hoa Kỳ khỏi vị thế lãnh đạo toàn cầu đang thúc đẩy những hoài nghi này theo một đường xoắn ốc xuống đáy vô tận.

Từ bỏ quyền lãnh đạo

Thúc đẩy dân chủ chưa bao giờ là một công việc dễ dàng. Các đời tổng thống Mỹ suốt từ Kenedy đến Reagan rồi Obama đã phải vật lộn để tìm ra sự cân bằng tối ưu giữa một bên là những mục tiêu cao đẹp của việc thúc đẩy dân chủ và quyền con người với một bên là những thúc mục tiêu chiến lược “cứng” trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Trong một số trường hợp, họ đều lựa chọn duy trì mối quan hệ không chỉ thực dụng mà còn nồng ấm với các nhà độc tài nhằm bảo vệ thị trường, bảo vệ đồng minh, chống khủng bố, và kiểm soát phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đã nhiều lần các tổng thống ủng hộ các lực lượng dân chủ một cách đầy cơ hội. Obama không hề có ý định lật đổ Mubarak, nhưng khi người Ai Cập nổi dậy, ông đã hậu thuẫn họ. Reagan chưa từng thấy trước rằng người Mỹ phải rời bỏ các chính trị gia đồng minh ở Philippines và Hàn Quốc, nhưng rồi các sự kiện thực tế buộc ông không còn lựa chọn nào khác. George H.W. Bush  dĩ nhiên không hề nghĩ rằng lời tiên tri của Reagan về sự sụp đổ của Liên Xô sẽ đến nhanh như vậy; song khi nó đến, ông đã mở rộng các chương trình hỗ trợ về dân chủ và quản trị nhằm thúc đẩy và củng cố những thay đổi lớn.

Khi sự nhấn mạnh mang tính biểu tượng và luận điệu về tự do và dân chủ của Nhà Trắng lúc lên lúc xuống trong suốt bốn thập kỷ qua, các cơ quan chính phủ và tổ chức phi lợi nhuận đã tiếp nhận nhiệm vụ hỗ trợ dân chủ, bao gồm Quỹ Quốc gia Hỗ trợ Dân chủ; Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ; hay Cục Dân chủ, Nhân Quyền và Lao động của Bộ Ngoại giao. Nước Mỹ dành khoảng 2 tỷ đô mỗi năm trong suốt thập niên qua cho các chương trình thúc đẩy dân chủ ở nước ngoài – một khoản tiền lớn, song vẫn chưa bằng 0,1% ngân sách liên bang.

Dù đúng là chính phủ Mỹ nên chi nhiều hơn cho các nỗ lực này, song vấn đề về cơ bản không phải là nguồn lực. Thay vào đó, sự mâu thuẫn giữa những nỗ lực hỗ trợ dân chủ đáng ngưỡng mộ với các tuyên bố ngoại giao, các chuyến thăm cấp nhà nước, và các khoản viện trợ đã thường phát đi những thông điệp trái ngược. Chỉ một năm sau khi Tổng thống Bush (con) tuyên bố trong lễ nhậm chức nhiệm kỳ hai của ông rằng ông sẽ “kết thúc bạo quyền”, không ai khác ngoài chính ông đã chào đón ở Nhà Trắng vị tổng thống tham nhũng, độc tài của Azerbaijan Ilham Aliyev, trong khi không hề nói một lời nào về nỗi bất mãn của công luận đối với bản chất của chính quyền Aliyev. Còn Obama, trong chuyến thăm đến Ethiopia vào năm 2005, đã hai lần gọi chính phủ nước này là “được bầu một cách dân chủ”, mặc dù chỉ vài tháng trước đó liên minh cầm quyền chỉ tổ chức các cuộc bầu cử mang tính hình thức.

Cái bẫy của việc làm thân với các nhà độc tài thân thiện trong khi phớt lờ sự chuyên quyền của họ là rất khó tránh, và tất cả các tổng thống tiền nhiệm đều thỉnh thoảng rơi vào bẫy này. Tuy nhiên phần lớn trong số họ ít nhất đều tìm cách để cân bằng, gây áp lực khi có thể và làm rõ một nguyên tắc bao quát là hỗ trợ tự do. Song điều này đã thay đổi từ sau khi Trump lên nắm quyền, người thậm chí còn chẳng thèm giả vờ hỗ trợ tự do. Trái lại, ông kết thân với các nhà độc tài như Putin, Kim Jong Un, Thái tử Mohammed bin Salman, trong khi chế nhạo và xem thường Châu Âu cũng như các nền dân chủ đồng minh khác.

Thái độ không quan tâm của Trump đối với các nguyên tắc dân chủ đang đóng góp vào sự “hợp pháp hóa” đầy nguy hiểm các nhà độc tài trên thế giới. Đơn cử như trường hợp Tổng thống Uganda Yoweri Museveni. Hồi đầu tháng 10 năm 2017, tôi nhận được một bức thư tuyệt vọng từ Nicholas Opiyo, một trong những luật sư nhân quyền hàng đầu nước này. Theo đó, vào cuối tháng 9 năm ấy, binh lính đã đột kích vào toà nhà Quốc hội và hành hung những nghị viên nào phản đối một tu chính án hiến pháp không được lòng dân mà nếu được thông qua sẽ cho phép Museveni, người vào lúc ấy đã nắm quyền được 30 năm, trở thành tổng thống suốt đời. Ông viết “Tôi cảm thấy như cả khu vực đang bước vào một cuộc suy thoái dân chủ nghiêm trọng một phần nhờ vào sự im lặng rõ ràng từ các đồng minh phương Tây”. Opiyo còn viết thêm: “Trong quá khứ, chính quyền còn có chút miễn cưỡng khi hành xử một cách [tàn bạo] và bạo lực như thế, và cũng còn có chút xấu hổ. Bây giờ thì chẳng như vậy nữa.”

Các nhà độc tài trên thế giới đang nghe cùng một thông điệp với Museveni: sự giám sát của Hoa Kỳ đã chấm dứt, và họ có thể làm bất kì điều gì mình thích, miễn sao đừng phật lòng người Mỹ. Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte nghiễm nhiên rất thuộc thông điệp này. Ông đã bãi nhiệm Chánh án tối cao, bắt giữ các nghị sĩ bất đồng, đe dọa các phóng viên và những người phản đối chiến dịch “chống ma túy” của ông, một chiến dịch tàn nhẫn nhắm cả vào các đối thủ chính trị và dân thường vô tội. Trong khi đó, được giải phóng khỏi áp lực từ Mỹ, Tổng thống Abdel Fattah el-Sisi phát động một chiến dịch đàn áp tỉ mỉ, tàn bạo nhằm vào mọi hình thức chống đối và bất đồng chính kiến ở Ai Cập, đưa nước này vào bầu không khí chính trị tù túng hơn cả 29 năm cầm quyền của Mubarak. Còn Thái tử Salman thì thậm chí còn thoát cả tội danh giết người: ông ta không hề phải chịu bất kì hậu quả nào dù các bằng chứng chỉ ra rằng chính ông đã ra lệnh giết và phân thây nhà báo Jamal Khashoggi trong tòa Sứ quán Arab Saudi ở Istanbul hồi tháng 10/2018.

Thái độ ngày càng quyết liệt của hai quốc gia chuyên chế lớn nhất cũng đồng thời kéo lùi dân chủ. Trong thập niên vừa qua, Nga đã cứu trợ chính quyền của Tổng thống Bashar al-Assad ở Syria, sát nhập Crimea, và gây bất ổn ở Đông Ukraine. Trong khi đó, Trung Quốc đã đầu tư những khoản tiền và nỗ lực ngoại giao khổng lồ nhằm gia tăng quyền lực cũng như ảnh hưởng của họ trên toàn cầu, cả trên đất liền và dưới biển. Một thời đại cạnh tranh toàn cầu mới đã bắt đầu – không chỉ giữa các cường quốc đối địch mà còn giữa các triết lý đối nghịch nhau về quyền lực.

Mối đe dọa còn trở nên nghiêm trọng hơn khi cuộc cạnh tranh giữa các chính phủ dân chủ và chuyên chế là không hề đối xứng. Nga và Trung Quốc đang tìm cách thâm nhập vào các thể chế tại các quốc gia dễ bị tổn thương và làm suy yếu chúng , không phải bằng sự vận dụng hợp pháp “quyền lực mềm” (các biện pháp công khai như thuyết phục, lôi cuốn, và truyền cảm hứng) mà bằng “quyền lực bén”, khái niệm được đưa ra bởi Christopher Walker và Jessica Ludwig của Quỹ Quốc gia Hỗ trợ Dân chủ. Quyền lực bén bao gồm sử dụng chiến tranh thông tin và xâm nhập chính trị nhằm hạn chế tự do ngôn luận, làm biến đổi môi trường chính trị, xói mòn sự trong sạch của các cơ quan dân sự và chính trị. Theo lời của cựu Tổng thống Australia Malcolm Turnbull thì chiến lược này “lén lút, cưỡng ép, và tham nhũng”. Ở Australia và New Zealand, những nền dân chủ Tây phương bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các chiến thuật này, gần như không hề có nguồn tin truyền thông bằng tiếng Hoa nào mà độc lập với Bắc Kinh; và nhiều cựu quan chức thì đang kiếm được các khoản tiền lớn nhờ giúp thúc đẩy các lợi ích của Trung Quốc.

Australia đã đạt được một số thành công trong việc đẩy lùi xu hướng này nhờ vào các biện pháp lập pháp. Tuy nhiên, các nỗ lực của Trung Quốc nhằm thâm nhập vào truyền thông, các tổ chức dân sự, và nền chính trị gặp ít phản kháng hơn ở các nền kinh tế đang lên như Argentina, Ghana, Peru, hay Nam Phi. Nỗ lực gây ảnh hưởng của Trung Quốc thậm chí còn mở rộng đến tận Mỹ và Canada, đe dọa không chỉ tính độc lập và đa nguyên của các tổ chức cộng đồng, truyền thông Hoa Ngữ, mà còn cả quyền tự do ngôn luận và tự do học thuật trong các viện nghiên cứu cũng như các trường đại học tại đây.

 

Tái khởi động việc thúc đẩy dân chủ

Không có một biện pháp kỹ thuật nào có thể giải quyết các vấn đề gây thiệt hại cho tiến trình thúc đẩy dân chủ . Vấn đề là rất lớn, sâu sắc và đã tồn tại từ lâu. Do đó giải pháp cũng phải dài hơi như thế. Trước tiên, các nhà lãnh đạo Mỹ phải nhận thức rằng họ đang một lần nữa đứng giữa cuộc cạnh tranh toàn cầu về các giá trị và tư tưởng. Cả Đảng Cộng sản Trung Quốc và Điện Kremlin đều đang chiến đấu quyết liệt và bất chấp. Chiến thuật trung tâm của Kremlin là bác bỏ việc tồn tại sự thật khách quan, chứ đừng nói đến các giá trị phổ quát. Nếu không tồn tại sự thật khách quan, và không có giá trị đạo đức nào sâu sắc hơn bản thân quyền lực, thì kẻ nói dối vĩ đại nhất sẽ thắng – và dĩ nhiên đó là Putin. Giới lãnh đạo của Trung Quốc thì đang chơi một cuộc chơi dài hơi hơn: thâm nhập vào các xã hội dân chủ và chậm rãi làm suy yếu chúng từ bên trong. Họ có trong tay nhiều thủ pháp hơn, cùng với một nền tảng tài lực mạnh hơn hẳn Nga – trong đó quan trọng nhất là mạng lưới khổng lồ các cá nhân và tổ chức thuộc đảng Cộng sản, nhà nước và các chủ thể phi chính phủ.

Đấu tranh chống lại các chiến dịch chuyên chế thâm độc nhằm bóp méo thông tin, xâm nhập xã hội, và chiến tranh ý thức hệ sẽ là tối quan trọng đối với việc bảo vệ dân chủ. Các chính phủ dân chủ phải bắt đầu bằng việc giáo dục người dân của họ, giới truyền thông đại chúng, các trường đại học, viện nghiên cứu, các công ty, chính quyền địa phương,  cũng như các cộng đồng kiều bào về mối nguy hại từ các chiến dịch chuyên chế nhằm gây ảnh hưởng này và sự cần thiết của sự “cảnh giác mang tính xây dựng”, theo lời báo cáo “China’s Influence and American Instruments” (Ảnh hưởng của Trung Quốc và các công cụ của Hoa Kỳ) – một báo cáo năm 2018 của nhóm các chuyên gia về Trung Quốc được soạn bởi Viện Hoover và Asia Society – mà trong đó tôi là đồng biên tập với Orville Schell. Biện pháp phản ứng phải mang tính xây dựng, theo đó nó phải tránh thể hiện thái độ phản ứng thái quá hay chủ nghĩa dân tộc cực đoan, đồng thời tìm cách đẩy mạnh các giá trị dân chủ nhiều nhất có thể. Song các biện pháp này phải đề cao cảnh giác trong việc phát hiện và giám sát các nỗ lực ở hải ngoại của Nga và Trung Quốc nhằm khuếch trương ảnh hưởng của họ.  Do đó, các xã hội dân chủ phải trước sau minh bạch một cách nghiêm ngặt trong mọi hợp đồng, tài trợ, trao đổi giữa các cơ quan và các quan hệ khác với Nga, Trung Quốc. Đồng thời, các nền dân chủ nên đòi hỏi sự “có đi có lại” nhiều hơn từ hai nước này: ví dụ, họ không thể cho các báo, đài phát sóng được cho là “độc lập” của các nước chuyên chế này quyền tự do hoạt động không giới hạn ở nước họ, trong khi báo chí của họ thì bị kiềm chế nghiêm ngặt, bị từ chối visa; còn các mạng tin tức truyền hình cáp của họ thì hoàn toàn bị cấm phát sóng ở Nga và Trung Quốc. Các nền dân chủ, các định chế dân chủ như các trường đại học và viện nghiên cứu cũng phải hợp tác sâu sát hơn cùng nhau nhằm chia sẻ thông tin và cùng bảo vệ chính mình trước các chiến thuật “chia để trị”.

Không chỉ vậy, Hoa Kỳ phải phục hồi sự hiện diện, cũng như nâng cao hiểu biết về các quốc gia ở tuyến đầu của trận chiến quyền lực mềm với các nhà nước chuyên chế. Điều này đồng nghĩa với việc cần đẩy mạnh các chương trình như học bổng Fulbright (cái mà chính quyền Trump liên tục kêu gọi cắt giảm); học bổng Boren, tức chương trình tài trợ các sinh viên Mỹ đi học các ngôn ngữ thiết yếu ở nước ngoài; cùng các chương trình khác của Bộ Ngoại Giao nhằm gửi người Mỹ đến sống, làm việc, giảng dạy, trình diễn, và học tập ở nước ngoài. Nước Mỹ cũng nên tái chào đón người dân từ các quốc gia ấy – chẳng hạn như bằng cách đưa đến Mỹ nhiều hơn nữa các nhà báo, chuyên gia chính sách, lãnh đạo xã hội dân sự, các dân biểu dân cử, và quan chức chính phủ trong khuôn khổ các chương trình hợp tác và đào tạo. Đây chính xác không phải là lúc để nước Mỹ hướng vào trong và đóng cánh cửa của họ đối với người nước ngoài, tuyên bố rằng họ cần tập trung vào các vấn đề của mình.

Để đối chọi lại với bộ máy tuyên truyền toàn cầu của Nga và Trung Quốc, Hoa Kỳ sẽ cần phải tái khởi động và mở rộng mạnh mẽ các nỗ lực ngoại giao công chúng. Trung Quốc đang không ngần ngại tìm cách khống chế quan điểm của thế giới về họ, về các ý định của họ, và về mô hình quản trị của họ. Trong khi đó Nga cũng đang lan truyền thông điệp của mình – đề cao nước Nga và Putin như những người bảo vệ cho các giá trị Ki Tô Giáo truyền thống trong thời đại của quyền của người đồng tính, chủ nghĩa nữ quyền, và đa nguyên văn hóa – bên cạnh thái độ xem thường đối với dân chủ và những lời nói dối trắng trợn về Hoa Kỳ. Washington phải trả đòn bằng các chiến dịch thông tin được đo ni cho phù hợp với các bối cảnh địa phương và có thể nhanh chóng chạm đến người dân nhằm thể hiện các giá trị của mình. Đồng thời, họ cũng phải tiến hành một cuộc tranh đấu dài hơi nhằm lan truyền các giá trị, tư tưởng, kiến thức, và kinh nghiệm của những người được sống trong các xã hội tự do. Họ phải vận dụng các cách thức sáng tạo để vượt tường lửa Internet và xuyên thủng môi trường chuyên chế – chẳng hạn như lan truyền các video và bài viết đề cao dân chủ bằng tiếng địa phương qua USB. Nước Mỹ cũng phải tạo ra các công cụ mới nhằm giúp đỡ người dân ở các chế độ chuyên chế một cách an toàn, đồng thời cẩn trọng vượt qua kiểm duyệt và kiểm soát Internet.

Mỹ từng có một công cụ rất hữu dụng trong các cuộc chiến về thông tin và tư tưởng: Sở Thông tin Hoa Kỳ (USIA). Song, vào năm 1999, cơ quan này đã bị chấm dứt hoạt động trong một thỏa thuận giữa chính quyền Clinton và Thượng Nghị sĩ Đảng Cộng Hòa của bang North Carolina Jesse Helms, người kêu gọi giảm bớt can dự của Hoa Kỳ ở nước ngoài. Nhằm tiếp tục duy trì ngân sách cho can dự của Mỹ ở hải ngoại, chính quyền Clinton đã miễn cưỡng đóng cửa USIA. Ngân sách và các hoạt động của tổ chức này được chuyển sang – chưa bao giờ thật sự hiệu quả– cho Bộ Ngoại Giao, khiến một công cụ thiết yếu trong việc thúc đẩy dân chủ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đến năm 2016, chính quyền Obama thành lập Trung tâm Can dự Toàn cầu (Global Engagement Center), một nhóm nằm trong Bộ Ngoại Giao có nhiệm vụ chống lại các hoạt động tuyên truyền và bóp méo thông tin từ nước ngoài. Tuy nhiên, Rex Tillerson, Ngoại trưởng đầu tiên của Trump, đã không sử dụng hết các nguồn lực được phân bổ; và sáng kiến này đến nay mới lấy được đà hoạt động nhờ công của Ngoại trưởng mới Mike Pompeo, người hiểu tầm quan trọng của cơ quan này.

Cái mà nước Mỹ cần lúc này không chỉ là một chương trình đơn nhất mà là cả một cơ quan thông tin với đội ngũ chuyên gia thông tin làm việc lâu dài, nhanh nhạy, có sáng tạo công nghệ – hay như lời James Clapper, cựu Giám đốc Tình báo Quốc gia – là “một USIA ở mức tối đa”. Mục đích của việc tái lập USIA không phải là nhằm đánh bại Trung Quốc hay Nga trong cuộc chiến “bóp méo thông tin”. Mặt khác, cơ quan này –  cùng với Cơ quan Truyền thông Toàn cầu Hoa Kỳ (USAGM), đơn vị quản lý các đài phát sóng hải ngoại độc lập của Mỹ như Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, Đài Châu Âu Tự do/Radio Tự do – sẽ thực thi châm ngôn của nhà báo nổi tiếng Edward R.Murrow, giám đốc USIA dưới thời Tổng thống Kenedy, rằng “Sự thật là lời tuyên truyền tốt nhất và nói dối là cách tuyên truyền tệ nhất”. Và sự thật là con người muốn sống trong tự do. Cách hiệu quả nhất để chống lại chương trình tuyên truyền của Nga và Trung Quốc là phơi bày cách mà hai quốc gia khổng lồ này thật sự được cai trị. Những sự thật và phân tích này sau đó phải được truyền bá một cách rộng rãi và sáng tạo trong lòng nước Nga và Trung Quốc, trong các xã hội khép kín, ngoài ra là cả các xã hội mở hơn, mà vì ảnh hưởng của các nỗ lực tuyên truyền từ Nga và Trung Quốc, đã không còn nhận thức được đúng và thật bản chất của hai chế độ này.

Minh bạch cũng có thể đóng một vai trò trong cuộc chiến vì dân chủ. Điểm yếu của mọi chế độ chuyên chế, bao gồm Nga và Trung Quốc, là nạn tham nhũng sâu sắc và khó chữa của họ. Không một quốc gia nào có thể kiểm soát được tham nhũng nếu không xây dựng nhà nước pháp quyền. Nhưng điều đó sẽ là không tưởng đối với hai nước này – bởi lẽ ở Trung Quốc, điều ấy có nghĩa là đặt đảng Cộng sản dưới một cơ quan tư pháp độc lập, và bởi ở Nga, chế độ hiện tại là một tập đoàn tội phạm có tổ chức đang giả trang như một nhà nước. Song các nền dân chủ dẫn đầu vẫn có một vài con bài trong tay mình, bởi lẽ phần lớn số tài sản cá nhân kếch xù tích lũy được từ các hoạt động tham nhũng được đổ vào các nhà băng, các cấu trúc tập đoàn, và thị trường bất động sản ở châu Âu và Mỹ thông qua các kẽ hở pháp lý và chỉ làm lợi cho một số ít có đặc quyền. Những kẽ hở này cho phép các nhà độc tài cùng thân hữu của họ che giấu và rửa các khoản tiền bẩn thông qua các công ty ma và các giao dịch bất động sản ẩn danh. Nước Mỹ, về phần họ, có thể ra các đạo luật chấm dứt những chiêu thức này đơn giản bằng cách yêu cầu mọi công ty, mọi đăng ký ủy thác, và mọi giao dịch bất động sản ở Hoa Kỳ phải khai báo người chủ sở hữu thật sự. Họ cũng có thể cấm các cựu quan chức và nghị sĩ Hoa Kỳ tham gia vận động hành lang cho các chính phủ nước ngoài, đồng thời cải thiện thẩm quyền pháp lý và nguồn lực của các cơ quan như Mạng lưới Thi hành pháp luật chống Tội phạm Tài chính (Financial Crimes Enforcement Network) của Bộ Tài Chính nhằm phát hiện và truy tố hoạt động rửa tiền.

Cuối cùng, nếu nước Mỹ muốn thắng cuộc chiến toàn cầu vì dân chủ, họ sẽ phải khởi đầu từ ở nhà. Người dân trên toàn cầu phải một lần nữa thấy nước Mỹ như một nền dân chủ xứng đáng cho họ noi theo. Điều này sẽ không xảy ra nếu Quốc hội tiếp tục bế tắc, nếu các cuộc bầu cử tiếp tục phụ thuộc vào “tiền đen”, nếu hai đảng tiếp tục thao túng phạm vi địa lý các đơn vị bầu cử một cách trơ trẽn nhằm tối đa hóa ưu thế đảng phải, và nếu một đảng nào đó trở nên gắn liền với các nỗ lực không khoan nhượng nhằm áp chế lá phiếu của các sắc tộc thiểu số.

Tấm gương Mỹ

Đây không phải lần đầu tiên tự do toàn cầu ở vào thế bị đe dọa. Quay trở lại năm 1946, khi Chiến Tranh Lạnh đang đến gần, nhà ngoại giao George Kennan đã gửi “Bức điện dài” nổi tiếng của ông từ Đại Sứ quán Mỹ ở Moskva. Kennan hối thúc người Mỹ phải nhận thức rõ về bản chất không rõ ràng của mối đe dọa chuyên chế, củng cố quyết tâm và năng lực quân sự tập thể của các nền dân chủ nhằm đối chọi và đẩy lùi tham vọng chuyên chế, đồng thời làm mọi thứ có thể để tách các nhà lãnh đạo chuyên chế tham nhũng khỏi người dân của họ.

Song Kennan cũng hiểu rằng: tài sản lớn nhất của nước Mỹ chính là nền dân chủ của họ, rằng họ phải tìm được “lòng dũng cảm và sự tự tin” để giữ vững niềm tin của họ, tránh trở nên “giống như kẻ họ đang đối đầu”. Kennan khuyến cáo: “mọi biện pháp dũng cảm và táo bạo nhằm giải quyết các vấn đề nội tại của xã hội chúng ta… đều là một chiến thắng ngoại giao trước Moskva, đáng giá như hàng ngàn công hàm ngoại giao và thông cáo chung”.

Ngày nay, khi nước Mỹ đấu tranh với không chỉ một mà hai đối thủ chuyên chế đầy quyết tâm, những khuyến nghị của Kennan rất xứng đáng được nhớ tới. Hoa Kỳ đang đứng trước một bờ vực, đối mặt với một thời điểm mà tự do và dân chủ sẽ bị thử thách. Nước Mỹ vẫn là nền dân chủ không thể thiếu trong hệ thống khổng lồ các liên minh và tổ chức của thế giới. Giờ đây, hơn mọi lúc nào khác , số phận của nền dân chủ Mỹ có mối liên hệ mật thiết với cuộc đấu tranh toàn cầu cho tự do. Và kết quả của cuộc đấu tranh ấy phụ thuộc vào cách mà người Mỹ hồi phục lại phẩm chất của nền dân chủ của mình cũng như niềm tin của họ vào giá trị và những hứa hẹn của nền dân chủ ấy.

Nhân quyền Việt Nam

Hiếu Ngọc

Video cập nhập

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *