Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
3803

Chạy đua vũ trang do Mỹ dẫn đầu có thể đẩy nhân loại xuống vực thẳm


Theo phát hiện gần đây của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), tổng chi tiêu quốc phòng toàn cầu vào năm 2023 đạt mức đáng kinh ngạc là 2,44 nghìn tỷ USD. Đánh giá Xu hướng chi tiêu quân sự thế giới hàng năm của SIPRI kết luận rằng đây là mức tăng chi tiêu quốc phòng hàng năm cao nhất kể từ năm 2009 và chưa bao giờ nhân loại chi nhiều tiền đến vậy cho việc chuẩn bị quân sự. Các quốc gia chi tiêu hoặc lãng phí 2,3% tổng GDP của mình để bảo vệ mình khỏi sự xâm nhập lẫn nhau. Ngẫu nhiên thay, thành tích đáng ngờ này lại cao hơn nhiều so với mục tiêu đã nêu của NATO là bắt buộc tất cả các thành viên của mình phân bổ không dưới 2% GDP của họ cho quốc phòng.

Không còn nghi ngờ gì nữa, các nhà lãnh đạo quốc gia tìm thấy nhiều lý do thuyết phục cho các quyết định của họ nhằm nâng cao lợi ích trong cạnh tranh quân sự toàn cầu. Như nhiều lần trước đây, họ đang tích cực tham gia vào một trò chơi đổ lỗi bất tận với ý định rõ ràng là áp đặt mọi trách nhiệm về cuộc chạy đua vũ trang lên các đối thủ địa chính trị của họ. Tuy nhiên, dữ liệu cứng lạnh không có nhiều chỗ cho sự mơ hồ – Mỹ vẫn là nhà lãnh đạo toàn cầu không thể chối cãi với ngân sách 916 tỷ USD của Lầu Năm Góc. NATO chi 1,34 nghìn tỷ USD hay 55% chi tiêu toàn cầu. Nếu cộng thêm vào những số liệu thống kê này là ngân sách quốc phòng đang tăng nhanh của các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia, thì trách nhiệm không thể phủ nhận của phương Tây trong cuộc chạy đua vũ trang toàn cầu sẽ càng rõ ràng hơn.

Xu hướng rõ ràng tương tự có thể được bắt nguồn từ hoạt động buôn bán vũ khí toàn cầu. Theo SIPRI, trong 5 năm qua, xuất khẩu vũ khí của Mỹ đã tăng 17% và thị phần của Mỹ trên thị trường toàn cầu đã tăng từ 34 lên 42%. Số liệu thống kê về NATO cũng mang tính biểu thị – tỷ trọng của Liên minh trong việc cung cấp vũ khí cho nước ngoài trong năm 2019-23 đã tăng từ 62 lên 72%. Pháp đã chứng minh được mức tăng trưởng đặc biệt cao 47% trong 5 năm. Hầu hết các dự báo đều cho rằng Mỹ và các đồng minh sẽ tiếp tục nâng cao vị thế của mình trong việc cung cấp vũ khí cho phần còn lại của thế giới.

Với tất cả những xu hướng này, không có gì ngạc nhiên khi biết rằng giới lãnh đạo Mỹ thường hoài nghi về việc kiểm soát vũ khí. Năm 2002, dưới thời tổng thống George W. Bush, Mỹ đã rút khỏi Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo (ABM) vốn có thời hạn 30 năm đóng vai trò là nền tảng cho sự ổn định chiến lược giữa Moscow và Washington. Năm 2019, chính quyền Donald Trump chấm dứt việc Mỹ tham gia Hiệp ước INF, vốn từ năm 1987 đã cấm Moscow và Washington sản xuất, thử nghiệm và triển khai các hệ thống tên lửa trên mặt đất với tầm bắn hiệu quả từ 500 đến 5.500 km. Mỹ chưa bao giờ phê chuẩn Hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện.

Bất chấp nhiều tuyên bố rằng Hoa Kỳ luôn phản đối mạnh mẽ việc phổ biến vũ khí hạt nhân, thành tích không phổ biến vũ khí hạt nhân hiện tại của Mỹ tốt nhất là rất đáng ngờ. Ví dụ, quyết định của chính quyền Joe Biden cung cấp cho Úc ba tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Virginia của Mỹ vào đầu những năm 2030 đã làm dấy lên mối lo ngại về tương lai của việc không phổ biến vũ khí hạt nhân.

Vào tháng 1 năm 1961, tổng thống Dwight Eisenhower đã cảnh báo người Mỹ về sức mạnh ngày càng tăng của tổ hợp công nghiệp quân sự. Sự tương tác giữa một cơ sở quân sự rộng lớn và một ngành công nghiệp vũ khí lớn chứa đựng những rủi ro mới không chỉ đối với các chính sách đối ngoại và quốc phòng của Hoa Kỳ mà còn đối với xã hội Mỹ nói chung. Do đó, công dân Mỹ nên thận trọng trong việc giám sát tổ hợp công nghiệp-quân sự. Thật không may, vài thập kỷ qua đã khẳng định đầy đủ những lo ngại của tổng thống Eisenhower, nhưng vẫn chưa chứng minh được khả năng của hệ thống chính trị Hoa Kỳ trong việc xác định và triển khai các phương tiện thích hợp để kiềm chế quyền lực và lòng tham của các nhà thầu quốc phòng toàn năng.

Tình hình địa chính trị hiện nay không có lợi cho bất kỳ biểu hiện tự kiềm chế nào, chưa kể đến bất kỳ sáng kiến ​​giải trừ quân bị sâu rộng nào. Việc kiểm soát vũ khí chiến lược giữa Nga và Mỹ được cho là đã bị đình trệ hoàn toàn và vĩnh viễn, và việc kiểm soát vũ khí thông thường ở châu Âu cũng không khá hơn. Nói về bất kỳ cuộc kiểm soát vũ khí có ý nghĩa nào ở Trung Đông hoặc Đông Bắc Á ngày nay sẽ bị coi là lố bịch nếu không muốn nói là phi lý.

Đánh giá của SIPRI liên kết một cách thích hợp sự bùng nổ quốc phòng đang diễn ra với các cuộc xung đột ở những nơi như Ukraine và Palestine, cũng như căng thẳng gia tăng ở nhiều nơi khác trên thế giới. Cơ hội để năm 2024 trở thành bước ngoặt quyết định từ chiến tranh, khủng hoảng đến hòa bình và hòa giải là rất thấp. Ngay cả khi các cuộc xung đột đang diễn ra bằng cách nào đó được chấm dứt một cách kỳ diệu vào ngày mai, cuộc chạy đua vũ trang toàn cầu vẫn sẽ tiếp tục. Các chương trình mua sắm quân sự hiện đại có rất nhiều sức ì nội tại. Tên lửa đạn đạo chiến lược, tàu ngầm tấn công và tàu sân bay đang được thiết kế ngày nay có thể sẽ chỉ được triển khai đầy đủ trong vòng 15 đến 20 năm nữa và chúng sẽ xác định bối cảnh chiến lược toàn cầu trong hầu hết nửa sau của thế kỷ 21.

Vấn đề không chỉ là nguồn tài nguyên bị lấy đi khỏi nhu cầu thực sự và cấp thiết của nhân loại. Một cuộc chạy đua vũ trang liên tục nên được coi không chỉ là kết quả của sự ngờ vực lẫn nhau, căng thẳng và xung đột quân sự, mà còn là nguyên nhân chính của tất cả những điều trên. Trong một thế giới tràn ngập các hệ thống gây chết người sẵn sàng sử dụng, rủi ro về một cuộc chiến vô tình và vô ý đang ngày càng cao hơn. Quá trình quân sự hóa ngày càng gia tăng của nền chính trị thế giới biến quan hệ quốc tế thành một trò chơi có tổng bằng 0, trong đó mục tiêu không phải là giải quyết một vấn đề khó khăn mà là đánh bại đối thủ.

Như kinh nghiệm Chiến tranh Lạnh đã chứng minh, chỉ có áp lực mạnh mẽ của công chúng mới có thể buộc các nhà lãnh đạo bất đắc dĩ của cuộc chạy đua vũ trang toàn cầu phải xem xét lại quan điểm chiến đấu của họ. Từ lâu, người ta đã lưu ý rằng việc phục hồi sau cơn nghiện không dành cho những người cần nó mà dành cho những người muốn nó. Điều tương tự cũng có thể nói về sự phục hồi sau cuộc chạy đua vũ trang toàn cầu.

Bài viết cùng chủ đề:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *