Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác tin bài của nhanquyenvn.org, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "nhanquyenvn.org". Tìm kiếm ngay
18259

Bảo vệ quyền người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Một lớp học tiếng Nhật cho người lao động

Năm 2006, Quốc hội khóa XI đã ban hành Luật số 72/2006/QH11 về Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Luật số 72) và có hiệu lực kể từ 01/7/2007. Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập quốc tế xuất hiện nhiều hình thức hợp tác, dịch chuyển lao động mới chưa được quy định trong Luật số 72, gây khó khăn trong việc hướng dẫn thi hành Luật và công tác quản lý Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Trước thực trạng đó, Chính phủ trình Dự thảo Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi) bố cục gồm 8 chương và 79 Điều (giữ nguyên số chương và giảm 01 điều so với Luật hiện hành).

Về sự cần thiết, mục tiêu và quan điểm xây dựng dự án Luật

Rà soát thể chế đầy đủ các quan điểm, định hướng của Đảng về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài[1], đặc biệt là đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính cho doanh nghiệp[2]; bảo đảm hài hòa trong việc quy định tăng cường quản lý nhà nước với việc thúc đẩy, phát triển hoạt động đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên cơ sở nguyên tắc của thị trường.

Nghiên cứu bổ sung các quy định làm rõ thêm vai trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Tăng cường nâng cao chất lượng lao động, hình ảnh người lao động Việt Nam khi tham gia vào thị trường lao động tại các nước khác trên thế giới và chú trọng đưa người lao động đi làm việc ở các thị trường có thu nhập cao, an toàn.

          Về tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật, tính tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan

Dự án Luật đã cơ bản phù hợp và bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp sự tương thích với một số điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên cần tiếp tục quan tâm:

(1) Rà soát mối quan hệ giữa dự thảo Luật với quy định của các luật hiện hành và mối quan hệ giữa dự án Luật với các dự án Luật mà Quốc hội đang cho ý kiến

(2) Tiếp tục rà soát, đánh giá toàn diện về tính tương thích của dự thảo Luật với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã phê chuẩn và có kế hoạch phê chuẩn trong thời gian tới.. Chính phủ, Ban Soạn thảo cần nghiên cứu, quan tâm thấu đáo các ý kiến góp ý kỹ thuật sơ bộ của Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam đối với vấn đề này. Bên cạnh đó, đề nghị Chính phủ, Ban Soạn thảo rà soát để bảo đảm sự phù hợp pháp luật với các nước tiếp nhận lao đông trong xây dựng dự án Luật này.

(3) Cân nhắc quy định tại khoản 1, Điều 25 về việc người lao động phải đóng tiền dịch vụ, thù lao môi giới phù hợp với Công ước số 181 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) (bảo vệ nguyền lợi của người lao động thì không được thu tất cả các loại phí của người lao động).

(4) Về di chuyển thể nhân ASEAN, cần cân nhắc các đối tượng là khách kinh doanh, thương gia, người di chuyển trong nội bộ công ty, các nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng, các đối tượng khác được nêu tại Biểu mẫu cam kết của các nước thành viên, do đó không bao gồm các cá nhân, cung cấp dịch vụ hoặc tìm kiếm việc làm đơn lẻ. Bên cạnh đó, liên quan đến bằng cấp, trình độ của lao động có kỹ năng trong khu vực ASEAN đang hướng tới xây dựng hệ thống đăng ký hành nghề chung ASEAN. Vì vậy, đề nghị Ban Soạn thảo rà soát thêm về nội dung

Về quyền và nghĩa vụ của người lao động (Điều 6)

Cần làm rõ hơn trong Dự án Luật tính phù hợp với các điều ước quốc tế khi dự thảo Luật đã bổ sung quy định người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng phải nộp các khoản chi phí làm việc ở nước ngoài cho đơn vị sự nghiệp đưa đi làm việc ở nước ngoài.

Theo quy định của pháp luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, nhưng hiện nay tỷ lệ này đang rất thấp; đề nghị Chính phủ, Ban Soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định nhằm bảo đảm tính tuân thủ để phát triển số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo vệ quyền lợi của họ.

          Về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp dịch vụ (Điều 28)

Điểm c, khoản 2 quy định doanh nghiệp phải cam kết bằng văn bản việc tuyển chọn người lao động sau khi tham gia hoạt động chuẩn bị nguồn của doanh nghiệp, tuy nhiên chưa tính đến trường hợp người lao động khi tham gia đào tạo, chuẩn bị nguồn không đáp ứng được yêu cầu đào tạo thì trách nhiệm sẽ thuộc về người lao động chứ không phải doanh nghiệp.

Điểm g, Khoản 2 quy định doanh nghiệp phải “bảo đảm cung cấp trợ giúp pháp lý trong trường hợp người lao động cần đến các hỗ trợ pháp lý khi bị lạm dụng, bạo lực hoặc phân biệt đối xử trong quá trình làm việc ở nước ngoài”. Như vậy, nhân viên của doanh nghiệp có đủ khả năng để hỗ trợ pháp lý cho người lao động hay không? Hay cần sự phối hợp với cơ quan đại diện ở nước ngoài mới thực sự hỗ trợ hoạt động có hiệu quả được cho người lao động.         

Về bảo lãnh cho người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài (Mục 3, Chương III)

Quy định về nội dung bảo lãnh cần được xem xét kỹ lưỡng thấu đáo hơn, nhằm bảo đảm quyền lợi cho bên bảo lãnh và người được bảo lãnh. Do đó, đề nghị Ban Soạn thảo rà soát và nghiên cứu các ý kiến đóng góp của ILO để hoàn thiện nội dung này.

Tác giả: Bùi Sỹ Lợi – Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hộ

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *